Trang 1 của 2 12 CuốiCuối
Kết quả 1 đến 10 của 15
  1. #1
    Ngày tham gia
    Nov 2014
    Vị trí hiện tại
    Lên núi đàm đạo với tiên sinh
    Bài viết
    1,448
    Ngân lượng
    133,977
    Thanked: 18584

    [CHIA SẺ] TIPs Edit Truyện Dành Cho Editor


    KINH NGHIỆM EDIT TRUYỆN
    (SƯU TẦM)


    I. Giới thiệu chung


    Từ edit vốn có nghĩa là biên tập, trong quá trình dịch một tác phẩm thì biên tập là khâu cuối cùng, sau khi người dịch dịch hoàn thiện tác phẩm, người biên tập sẽ đọc và chỉnh sửa lại, như vậy người biên tập phải biết tiếng và có kinh nghiệm hơn người dịch để có thể chỉnh sửa lỗi.

    Việc edit này cơ bản là đọc hiểu bản dịch của phần mềm rồi viết lại một câu cho rõ nghĩa dễ đọc. Theo mình biết, có hai cách edit. Một là chỉ dựa vào bản convert, cách này độ chính xác được khoảng 30% hoặc thấp hơn và thường là không đọc nổi. Cách thứ hai là phải có bản tiếng Trung, dùng phần mềm để dịch lại và tra cứu ở nhiều nguồn khác những từ chưa rõ nghĩa, mình dùng cách thứ hai, với phần mềm Quick Translator(QT), tất nhiên cũng phải kết hợp nhiểu công cụ tìm kiếm và tra cứu khác. Cách làm là copy đoạn cần edit bằng tiếng Trung, mở QT rồi chọn chức năng Translate From Clipboard, phần mềm sẽ tự dịch, trên giao diện hiện lên bản Hán việt, Vietphrase một nghĩa, Vietpharase nhiều nghĩa và cả bản tiếng Trung. Bạn chỉ cần đọc bản Vietphrase một nghĩa kết hợp với bản Hán việt, rồi viết lại câu, chú ý tên nhân vật phải viết theo Hán Việt.

    II. Làm thế nào để có bản edit đúng.

    Tất nhiên đúng ở đây chỉ là đúng theo nghĩa tương đối, như mình đã nói ở trên, không bao giờ có bản edit đúng theo nghĩa tuyệt đối, nhưng cũng cần tránh có bản edit sai quá nhiều so với bản gốc, người đọc chắc chắn không thể biết được bản edit đó sai, chỉ có bạn là người đọc bản Hán việt và bản Vietphrase một nghĩa là có thể biết, vì vậy mình có tổng hợp một số nguyên tắc như sau:

    1. Nguyên tắc 1: Lúc nào cũng phải cẩn thận.

    Công việc dễ sai nhất quả đất này chính là edit, vì vậy cẩn thận là nguyên tắc hàng đầu. Khi mình edit Vân Trung Ca đã sai rất nhiều lỗi không tra cứu cẩn thận thế này, ví dụ: Xảo quả là loại bánh trong Khất xảo tiết, lúc đầu mình đã edit thành hoa quả được bày khéo léo, Xá nhân là người đi theo hầu, đây là từ cổ, lúc đầu mình edit thành người có ơn, Kiếm hoa là tên một loại cây, lúc đầu mình tưởng là tên một thế kiếm…Tất nhiên những lỗi như thế này khi mới tập tành edit rất khó phát hiện ra, ai mà biết một từ như vậy lại có nghĩa khác, vì vậy, nguyên tắc cẩn thận chính là phải luôn luôn nhìn kết hợp bản Hán việt và bản Vietphrase, không chỉ chăm chú nhìn vào bản Vietphrase một nghĩa. Gặp từ nào thấy nghi ngờ phải tra cứu ngay, trước hết là tra cứu bằng Google.

    Khi nói về tra cứu, mình cần nói thêm một chút về cách tra cứu, nói thật nhé, không phải ai cũng biết cách tìm kiếm như thế nào cho hiệu quả nhất với các trang tìm kiếm đâu. Cách của mình là dùng dấu ngoặc kép kết hợp với dấu + để loại bỏ những kết quả không cần thiết. Ví dụ muốn tìm câu “Ba tháng không biết vị thịt” mà bạn nghi tác giả là Khổng Tử, hãy đánh vào ô tìm kiếm của Google như sau:

    “Ba tháng không biết vị thịt” + “Khổng Tử”

    Khi tìm kiếm như thế này cũng phải rất kiên nhẫn nữa, có khi tìm tới trang thứ n mới ra được kết quả. Nếu tìm bằng Google không ra, bạn bôi đen từ cần tra ở QT, bấm chuột phải chọn Baikeing, QT sẽ kết nối với Baike, bạn copy đoạn giải thích về từ cần tra, mở một QT mới, để phần mềm dịch và đọc hiểu. Nếu có lỗi không kết nối được với Baike, bạn copy từ tiếng Trung đó rồi tìm với Google, lưu ý dùng dấu ngoặc kép.

    Với những bạn mới tập edit, việc đầu tiên là hỏi Google ca ca xem có bao nhiêu bài hướng dẫn edit, nghiên cứu trước rồi hãy bắt tay vào làm. Trước khi edit mình cũng bỏ ra mấy ngày, tìm và nghiên cứu mấy bài hướng dẫn thế này.

    Nhân tiện nói thêm về tên riêng của nhân vật, tên nhân vật tất nhiên phải chọn Hán việt, nếu QT chưa nhận ra đó là tên và không viết hoa, bạn bôi đen tên nhân vật, bấm chuột phải, chọn Add To Name, QT sẽ tự nhận diện đó là tên riêng, viết hoa theo Hán việt chứ không dịch ra nữa.

    2. Nguyên tắc 2: Ngữ pháp tiếng Việt và tiếng Trung khác nhau, hãy điều chỉnh cho phù hợp.


    • Trước khi viết một câu bạn nên tự hỏi, chủ ngữ đâu, vị ngữ đâu, rất nhiều bản edit rơi vào trường hợp câu không có chủ ngữ, nếu không có tất nhiên là mình phải tự thêm vào.

    Mình hay xét câu theo thứ tự: Chủ ngữ + động từ + vị ngữ để viết câu cho đúng.

    VD: Cô từ trong ví lấy ra một tờ hóa đơn

    Câu đúng là: Cô lấy từ trong ví ra một tờ hóa đơn.


    • Thứ tự từ: thứ tự từ trong tiếng Việt và tiếng Trung khác nhau, cần thay đổi lại chứ không dùng như bản QT đã dịch được.

    VD: Là Hoàng hậu Trần Quốc chứ không phải Trần Quốc hoàng hậu, là Vương phi Lan Lăng chứ không phải Lan Lăng Vương Phi, là phủ Đại Tư Mã, Điện Tuyên Thất chứ không phải Đại Tư Mã Phủ, Tuyên Thất Điện…


    • Tiếp đến là dấu câu, bản được QT dịch thường có dấu chấm, phẩy không phải là chính xác nhất, cũng hay có dấu ; nên bạn nên tự ngắt câu, thay đổi dấu cho phù hợp.



    • Tiếp nữa là về trạng ngữ, câu trong tiếng Việt thường viết trạng ngữ ở đầu câu, nhưng trong tiếng Trung thì chủ ngữ thường ở đầu câu. VD QT sẽ dịch ra là:

    Ta mấy ngày nữa sẽ tới thăm nàng.

    Nên chuyển thành: Mấy ngày nữa, ta sẽ tới thăm nàng.

    Hoặc: Hôm nay ta ở chợ nghe tin đồn về ngươi.

    Nên chuyển thành: Hôm nay ở chợ, ta nghe tin đồn về ngươi.


    • Trong tiếng Trung, chủ ngữ rất hay ở đầu câu, nhưng trong tiếng Việt thì không phải lúc nào cũng thế, ngoài trường hợp trạng ngữ, các trường hợp khác bạn cũng nên cân nhắc để viết câu cho đúng.

    VD: Cậu nếu không bận, ở lại chơi đi.

    Nên viết là: Nếu cậu không bận, ở lại chơi đi.

    3. Nguyên tắc 3: Ngôi xưng quyết định phần lớn độ hay trong tác phẩm của bạn

    Các bạn đều biết ngôi xưng trong tiếng Việt của chúng ta rất phong phú và đa dạng, nhưng ngôi xưng trong tiếng Trung khi QT dịch ra đều là ta và ngươi, cái này hoàn toàn tương tự như I và you trong tiếng Anh, nhưng khi dịch từ tiếng Anh sang tiếng Việt, tất cả chúng ta đều tự chuyển đổi cho phù hợp, có điều trong rất nhiều bản edit, các bạn vẫn giữ nguyên là ta – ngươi. Hãy lựa chọn ngôi xưng tiếng Việt cho phù hợp, điều này quyết định phần lớn độ hay trong tác phẩm của bạn.

    Con cái nói với trưởng bối, hãy gọi cha/mẹ/chú/bác/ cô / dì/ thúc/ bá/ cô cô/ phụ thân/ mẫu thân…., trưởng bối nói với con cháu, có thể xưng ta hoặc cha/mẹ/ chú/ bác… gọi bậc con cháu là con hay cháu. Thử nghe câu này của Hoắc Khứ Bệnh nói với Tam ca nhé:

    “Thật vất vả mới đợi tới lúc các ngươi đều trưởng thành, lúc này đương nhiên phải làm việc cần làm thôi.”

    Bạn nghe câu này sẽ thấy sao?

    Câu đúng phải là:

    “Thật vất vả mới đợi tới lúc các con đều trưởng thành, lúc này đương nhiên phải làm việc cần làm thôi.”

    Điều này áp dụng tương tự khi nhân vật xưng hô với huynh/đệ/tỷ/ muội của mình. Tóm lại là hạn chế dùng ngôi xưng ngươi – ta hết mức có thể, kể cả từ các ngươi, có thể thay bằng mọi người, hay mấy đứa…

    Còn khi là hai người đang yêu nhau thì tùy trường hợp các bạn lựa chọn ngôi xưng cho phù hợp.

    Điều tiếp theo phải nói khi viết về ngôi xưng đó là hai từ nàng và hắn.

    Trước hết là từ hắn, từ này giống hệt từ he trong tiếng Anh, tức là dùng thay cho người là nam khi được nhắc tới. Tất nhiên, mọi trường hợp QT đều dùng từ hắn, còn khi edit bạn nên lựa chọn cho phù hợp. VD khi nhắc tới nhân vật nam đã lớn tuổi, không nên dùng từ hắn, hãy dùng ông ấy, ông ta(thường dùng trong câu văn tường thuật), bác ấy, thúc ấy, bá ấy, chú ấy(thường dùng trong lời nói của các nhân vật với nhau)…

    Khi một số nhân vật nói về lão gia, công tử, hay hoàng thượng với người khác, cũng vẫn dùng từ hắn, trong trường hợp này nên thay bằng từ người hoặc ngài để thể hiện sự tôn trọng, lưu ý là vẫn phải tùy trường hợp. VD như cha con Hoắc Quang nhắc tới Lưu Phất Lăng mình vẫn dùng từ hắn, vì bọn họ chắc chắn là không coi trọng hoàng thượng.

    Có một trường hợp nữa, đó là khi trong truyện có người mang thai và nói về đứa con trong bụng mình, khi đó QT cũng dùng từ hắn. Bạn thử nghĩ xem, từ hắn trong trường hợp này sao dùng được, hãy dùng từ nó hay bé yêu hay gì đó tùy hoàn cảnh. Kể cả khi đề cập tới một bé trai rất nhỏ, VD như Lưu Thích mới 3 tuổi, QT cũng dùng từ hắn, khi đó hãy dùng từ nó hoặc lựa chọn khác của bạn cho phù hợp.

    Khi một cô gái nhắc về người mình yêu, thay vì từ hắn hãy dùng từ chàng hay huynh ấy.

    Áp dụng tương tự với từ nàng, từ này chỉ dùng phù hợp khi nhắc tới một cô gái trẻ, khi nhắc tới một phụ nữ đã lớn tuổi hãy dùng bà ấy, bác ấy, cô ấy…, và khi nhắc tới một đứa bé gái cũng không nên dùng từ nàng, hãy dùng nó, cô bé, bé… tùy trường hợp.

    VD: Khi gặp mẹ thiếp, nàng có hỏi, chàng hãy…

    Câu đúng là: Khi gặp mẹ thiếp, có hỏi, chàng hãy…

    Hoặc: Khi gặp mẹ thiếp, mẹ có hỏi, chàng hãy…

    Đọc tới đây bạn đừng cười, có nhiều bản edit thế lắm.

    Khi nhân vật nhắc tới một người phụ nữ mà mình ghét, cũng đừng nên dùng từ nàng, ghét như thế thì gọi nàng sao được, hãy dùng từ nàng ta, cô ta hay thậm chí là ả ta. Khi từ này dùng để nhắc tới một người phụ nữ có thân phận cao quý cũng nên chọn thay bằng người, hay bà cho phù hợp.

    Khi truyện thuộc thể loại xuyên không, là lời kể của nhân vật nữ chính, thay vì dùng ngôi xưng ta, bạn hãy dùng “tôi”, thậm chí khi cô ấy gọi những người khác chắc cũng không dùng mấy từ cổ kiểu như huynh/đệ/ tỷ/ muội…, hoặc cô ấy cũng không xưng là thiếp đâu, vì bạn thử nghĩ xem, ngôn từ của người hiện đại bây giờ khác xưa mà.

    Khi cha mẹ hay trưởng bối nhắc tới con gái/cháu gái của mình, bạn cũng không nên dùng từ nàng, hãy dùng từ con bé, nó, hay em con/em cháu, chị con/tỷ của con/chị cháu/tỷ của cháu (nếu nói với con/cháu của mình).

    VD: Hoắc Khứ Bệnh nói với Tam ca: “Nếu có thời gian, con để ý tới nàng(Vân Ca) một chút.

    Câu đúng là: Nếu có thời gian, con để ý tới em con một chút.

    Khi huynh tỷ/ đệ muội nói về chị/em của mình, cũng không nên dùng từ nàng, hãy dùng tỷ ấy/muội ấy.

    4. Nguyên tắc 4: Hãy cảnh giác, không phải lúc nào QT cũng đáng tin.

    Đó là trong trường hợp có ba từ A B C cạnh nhau, QT ghép A và B để dịch nghĩa, trong khi câu đúng phải là để A tách riêng, ghép B và C để dịch nghĩa hoặc ngược lại. Trường hợp này thì phải cảnh giác thôi.

    VD: về trường hợp này lấy ví dụ hơi khó, tạm thời bỏ qua nhé, mình chưa lần mò mấy bản QT được.

    5. Nguyên tắc 5: Chỗ nào dùng từ Hán việt, chỗ nào phải dùng từ thuần Việt mà không phải Hán việt, đó là vấn đề.

    Như ở trên mình có nhắc tới một số trường hợp, điều này quan trọng trong bản edit của bạn, nhưng áp dụng như thế nào thì tùy thuộc vào vốn từ và khả năng linh hoạt của bạn. Quá nhiều từ Hán việt sẽ khiến người đọc không hiểu, còn dùng từ thuần Việt quá sẽ làm giảm độ hay của tác phẩm, nhất là với truyện cổ đại. Có một số cụm từ bốn chữ có thể chuyển sang thuần Việt thế này:


    • Hữu thuyết hữu tiếu: vừa nói vừa cười.


    • Tựa tiếu phi tiếu: Như cười như không, hay cười như không cười, hay gì đó tùy vào cách dùng từ của bạn.


    • Nương: đừng dùng từ này, hãy dùng từ mẹ.


    • Lão bà: hãy dùng vợ/thê tử/ nương tử …


    • Lão công: hãy dùng chồng/phu quân/trượng phu…


    • Lão nhân gia: hãy dùng ông lão/ông cụ/bà cụ/bà lão tùy trường hợp, lão bà bà nên chuyển thành bà cụ.


    • Thanh âm: hôm trước mình có thắc mắc, tiếng Việt có từ này không, có rất ít từ điển có từ này, và rất ít dùng, vì thế nên dùng giọng nói, tiếng nói, âm thanh, tiếng động… tùy trường hợp cho phù hợp.

    VD: Thanh âm của hắn khàn khan.
    So với: Giọng nói của hắn khàn khàn thì câu 2 hợp lý hơn.


    • Thân ảnh: tiếng Việt cũng không có từ này, hãy dùng từ bóng, hình bóng, hình ảnh…cho phù hợp.


    • Hỉ bà(trong đám cưới): hãy dùng từ bà mối.


    • Tranh thủ tình cảm: có thể bạn sẽ đọc được câu này như kiểu “phi tần tranh thủ tình cảm”, xin thưa, đó phải là “phi tần tranh sủng”, từ Hán việt tranh sủng đã được dịch thẳng ra.


    • Nô tỳ: có một số phi tử, vương phi khi xưng với vua hay vương gia đều là nô tỳ, hầy, sao mà lại hạ mình tới thế, không phải đâu ạ, bản Hán việt vốn là từ thần thiếp, nhưng QT lại dịch thẳng ra là nô tỳ.


    • Sườn phi: giải thích giống trên, từ đúng là Trắc phi, vì trắc nghĩa là sườn.


    • Đủ loại quan lại: từ đúng là bách quan.


    • Bất quá: nên dùng là cùng lắm, nhưng mà, có điều…tùy trường hợp.


    • Thủy chung: ở tiếng Việt từ này nghĩa là tình cảm không thay đổi, nhưng từ Hán việt này trong một số trường hợp nghĩa là từ đầu tới cuối.

    VD: Hắn thủy chung không nói câu nào.
    Câu đúng là: Từ đầu tới cuối, hắn vẫn không nói câu nào.


    • Ly khai: từ đúng là rời đi.

    Nhảy dựng lên: không phải lúc nào cũng là nhảy dựng lên, có chỗ sẽ là đứng bật dậy.


    • Liền: trong bản convert, từ liền này có rất nhiều, tùy trường hợp bạn nên chuyển thành: thì, sẽ, đã, rồi…, chỉ dùng từ liền trong trường hợp chỉ một hành động diễn ra ngay sau đó, còn là hành động trong quá khứ, nên dùng từ đã.

    VD: Nếu thúc thúc không thích, liền thưởng cho chất nhi đi.

    Nên viết là: Nếu thúc thúc không thích, thì thưởng cho chất nhi đi.

    Hai con kiệt khuyển mất của Lưu Tư vô số tâm huyết, nhưng không ngờ trong chớp mắt liền mất đi một con.

    Nên viết là: Hai con kiệt khuyển mất của Lưu Tư vô số tâm huyết, nhưng không ngờ trong chớp mắt đã mất đi một con.


    • Là, thì là, chỉ là, cũng là, có là…: những từ này phần lớn nên bỏ đi hoặc thay đổi cho phù hợp.

    VD: Nàng chỉ là muốn ở cạnh hắn lâu một chút.

    Câu đúng là: Nàng chỉ muốn ở cạnh hắn lâu một chút.

    Ngươi muốn uy hiếp ta sao?

    Câu đúng là: Ngươi đang muốn uy hiếp ta sao?

    Khi thấy thế, nàng cũng là nước mắt tuôn rơi.

    Câu nên viết là: Khi thấy thế, nước mắt nàng cũng tuôn rơi.

    Bạn nên chú ý thêm là liên từ QT dịch ra thường không nên sử dụng, bạn nên chọn liên từ cho phù hợp với câu của mình.


    • A ở cuối câu: phần lớn cũng nên bỏ đi, để từ a này, theo mình câu văn sẽ không mang tính nghiêm túc. Áp dụng tương tự với từ nha ở cuối câu.



    • Cười hắc hắc: có thể bạn nghĩ từ này là điệu cười đặc biệt, không phải vậy đâu, cười thì không hắc hắc được, câu đúng là cười ha hả, hoặc cười hì hì.



    • Từ tượng thanh: phần lớn từ tượng thanh bị dịch ra đều là từ kỳ cục, bạn phải tự hình dung xem tiếng động đó thực tế thế nào để dùng từ cho phù hợp.

    VD: QT dịch là cánh cửa kêu chi nha, có bạn đã chú thích hẳn ra là chi nha là tiếng cửa. Làm gì có cánh cửa nào kêu như tiếng này, từ đúng là kẽo kẹt.

    QT dịch khóc là ô ô, làm gì có ai khóc ô ô, nên để là khóc hu hu hoặc tùy trường hợp để nghĩ ra từ tượng thanh cho phù hợp.

    Ba: chẳng có tiếng động nào là ba hết, tùy trường hợp sẽ là Bốp hoặc Bộp, VD: tiếng cái tát là Bốp chứ làm gì có tiếng cái tát là Ba.

    Tất cả cách trường hợp khác cũng vậy, tiếng động là ầm ầm, vù vù, ào ào, choang, leng keng, róc rách, vi vu….


    • Đem: khi một câu có một hành động được QT dịch ra đều có từ đem, từ này cần phải bỏ đi, chỉ có một số vô cùng ít trường hợp nó là đem thật thì mới giữ lại.

    VD: Quan phủ đem hắn bắt lại

    Câu đúng là: Quan phủ bắt hắn lại.

    Hắn đem ta bảo vệ ở phía sau.

    Câu đúng là: Hắn bảo vệ ta ở phía sau.


    • Hướng, hướng về phía: từ này chỉ phương hướng, tùy trường hợp bạn cũng bỏ đi hoặc thay từ cho phù hợp.

    VD: Hắn hướng ra phía ngoài bước đi.

    Câu đúng là: Hắn bước ra bên ngoài.

    Vu An hướng Lưu Hạ hành lễ.

    Nên dùng là: Vu An hành lễ với Lưu Hạ.

    Tiểu cô nương hướng bọn họ vẫy vẫy tay.

    Nên dùng là: Tiểu cô nương vẫy vẫy tay với bọn họ.

    Cùng: từ này phần lớn trường hợp nên dùng là “và” sẽ đúng hơn.
    VD: Mạnh Giác cùng Hoắc Thành Quân không biết vì sao vẫn đứng nguyên tại chỗ

    Câu đúng là: Mạnh Giác Hoắc Thành Quân không biết vì sao vẫn đứng nguyên tại chỗ


    • Như thế nào: hầu như câu hỏi nào QT dịch ra cũng có từ này, nhưng phần lớn nên thay bằng từ khác, có thể là vì sao, sao, sao mà, sao lại…tùy trường hợp.

    VD: Hắn như thế nào lại không tới?

    Câu nên dùng là: Sao hắn lại không tới?

    Hay: Vệ Thái tử như thế nào lại gọi là không có con nối dõi chứ?

    Câu đúng là: Sao lại nói là Vệ Thái tử không có con nối dõi chứ?


    • Sao ở cuối câu hỏi: hầu như câu hỏi nào được QT dịch cũng có từ sao ở cuối câu, tất nhiên dùng thì không sai, nhưng đọc nhiều sẽ lặp từ và chán, bạn có thể thay bằng các từ cuối câu hỏi khác như, à? Hả? thế sao? Ư?…



    • Vì cái gì: rất nhiều câu hỏi QT dịch ra cũng có từ vì cái gì, như đã nêu ở trên, dùng nhiều sẽ chán mà có khi còn không hợp lý, bạn có thể chuyển thành vì sao? Sao?



    • Tất cả đều là: chỉ có đầy một thứ gì đó.

    VD: Trên người hắn tất cả đều là mồ hôi.

    Nên viết là: Trên người hắn đầy mồ hôi.

    Trong mắt nàng tất cả đều là sợ hãi.

    Nên viết là: Trong mắt nàng chứa đầy sợ hãi.


    • Đông tây: không phải lúc nào cũng là đông tây, nó có nghĩa là gì đó, cái gì đó.

    VD: Vân Ca lục lọi tìm đông tây trong phòng.

    Câu đúng là: Vân Ca lục lọi tìm cái gì đó trong phòng.


    • Cà lơ phất phơ: chỉ một người giống…Lưu Hạ, bản thân mình thấy từ này khá kỳ cục, nên mình dùng ba lăng nhăng hoặc cợt nhả.


    • Nghiêng nghiêng ngả ngả: từ này rất hay xuất hiện, bạn có thể dùng hoặc thay bằng Chân nam đá chân chiêu, lảo đảo, lảo đà lảo đảo, loạng choạng, loạng chà loạng choạng, thất tha thất thểu….


    • Nguyên lai: từ đúng là hóa ra, lẽ ra.


    • Phi thường: rất, vô cùng, hết sức…

    VD: Tôi phi thường ngạc nhiên.

    Câu đúng là: Tôi rất ngạc nhiên hoặc Tôi vô cùng ngạc nhiên.


    • Cư nhiên: Lại, lại có thể…


    • Nghĩ muốn: chỉ là muốn thôi, bỏ từ nghĩ đi.

    VD: Con nghĩ muốn trêu a tỷ thôi.

    Câu đúng là: con muốn trêu a tỷ thôi.


    • Bát quái: khi tả về tính cách hoặc chuyện buôn dưa thì từ này không có nghĩa là bát quái, nó nghĩa là nhiều chuyện, giống từ “bà tám” hoặc tám chuyện ở miền Nam ấy, không biết có phải từ bà tám và tám chuyện bắt đầu từ cộng đồng người Việt gốc Hoa nên mới thế không nhỉ?


    • Hưu: nghĩa là bỏ, như kiểu ly hôn bây giờ ấy.

    VD: Nàng là một cô gái bị hưu.

    Câu đúng là: Nàng là một cô gái bị bỏ.


    • Thú: nghĩa là cưới.(Thế mới có từ Hôn thú ấy mà)

    VD: Ta sẽ không thú nàng.

    Câu đúng là: Ta sẽ không cưới nàng.


    • Trừ bỏ: nên dùng là ngoài, hoặc ngoài ra.

    VD: Mấy hôm nay, trừ bỏ ăn tôi chỉ có ngủ.

    Câu đúng là: Mấy hôm nay, ngoại trừ ăn tôi chỉ có ngủ.


    • Ngày thứ hai: một số trường hợp phải là ngày hôm sau mới đúng.

    Khi edit bạn cũng nên xem bản tiếng Trung, dù rằng không biết nghĩa của từ nhưng tiếng Trung là chữ tượng hình, một vài trường hợp chỉ cần nhìn chữ tiếng Trung là hiểu để giải thích được.

    Từ chuyên ngành của một số lĩnh vực cũng cần chú ý, có một số từ phải giữ nguyên Hán việt mới đúng, nhưng QT lại dịch thẳng ra, muốn biết tất nhiên bạn phải hỏi Google rồi.

    6. Nguyên tắc 6: Đoán bừa cũng nên có căn cứ.

    Vì sao lại nói là đoán bừa, vì có một số từ QT không tra nghĩa được, mà tra ở chỗ khác cũng không được nên phải đoán bừa, nhưng cũng đừng quá chế bậy. Bạn nên liên hệ nội dung đoạn trước và đoạn sau, cố gắng suy đoán xem từ không dịch được đó là nghĩa gì.

    III. Làm thế nào để có bản edit hay.

    Để có bản edit đúng đã khó, nhưng để hay thì cần nhiều thời gian hơn, mình có tổng hợp một số nguyên tắc thế này.

    1. Nguyên tắc 1: Sử dụng từ đồng nghĩa một cách linh hoạt.

    Khi bạn bấm vào một từ trong QT, màn hình sẽ hiện thị tất cả các nghĩa của từ đó, hãy chọn nghĩa mà bạn cho là phù hợp nhất, khi thấy rằng tất cả đều không phù hợp, hãy nghĩ ra các từ đồng nghĩa khác bạn có thể nghĩ tới, nếu bạn thấy thế quá phiền, vậy khó có được bản edit hay lắm.

    Khi dùng từ, bạn cũng nên chú ý tới truyện mình edit là truyện hài hước hay chính truyện, nhân vật đang được nói tới như thế nào, nhân vật đó sẽ phải dùng những từ như thế nào mới thể hiện rõ được phong cách của mình?…

    Có một lần mình đọc được một đoạn trong một truyện nói về nữ chính là hoàng hậu bị ngã, trong một chính truyện nhé, bạn edit dùng từ “ngã chổng bốn vó”, nghe công nhận buồn cười đúng không, nhưng vào truyện như thế thì sẽ là chuyển ngữ lố bịch ấy.

    2. Nguyên tắc 2:

    Học hỏi cách dùng từ của người khác qua những truyện mà bạn đọc, hãy tích lũy vốn từ, cách diễn đạt và viết câu. Edit không phải là copy y nguyên những gì QT dịch ra đã rõ nghĩa, mà là viết lại câu văn bằng giọng văn và cách diễn đạt của bạn, tất nhiên điều này tùy vào khả năng của mỗi bạn khi edit.

    3. Nguyên tắc 3:

    Để edit hay thì tin QT càng ít càng tốt, tức là đừng dùng hết thảy những gì QT dịch ra, mà hãy diễn đạt sao cho hay hơn. Nguyên tắc này nói gọn lại là dùng từ đồng nghĩa một cách hợp lý và linh hoạt nhất, và diễn đạt câu một cách hay nhất.

    VD: Nàng cái gì cũng không muốn nghĩ tới.

    Câu này rõ nghĩa, nhưng không hay.

    Câu nên viết là: Nàng không muốn nghĩ tới gì hết.

    Thành ngữ, tục ngữ cũng rất hay bị QT tự ý chuyển đổi sang tiếng Việt với nghĩa gần tương đương.

    VD: Khi Mạnh Giác kể chuyện cha mình dùng đệ đệ để tráo với Lưu Tuân, QT đã dùng thành ngữ “treo đầu dê bán thịt chó” trong khi câu đúng là “thay xà đổi cột”, về nghĩa thì không sai, mà dùng câu “treo đầu dê bán thịt chó” trong trường hợp này thì…

    Khi tả về Mạnh Giác nói chuyện với ai cũng hợp trong đám cưới của Bệnh Dĩ, câu thành ngữ là “trường tụ thiện vũ”, nghĩa là “tay áo dài khéo múa”, QT đã rất thông minh chuyển thành “Mạnh vì gạo, bạo vì tiền”

    Khi tả về Bệnh Dĩ, QT đã dùng câu “ăn bữa nay, lo bữa mai” trong khi câu đúng là: triêu bất bảo tịch, nghĩa là an toàn vào buổi sáng nhưng không đảm bảo còn được thế tới tối.

    Câu này về nghĩa cũng không sai nhiều lắm, nhưng không thể hiện rõ ý của câu thành ngữ mà tác giả dùng, vì “Ăn bữa nay, lo bữa mai” chỉ là lo về ăn uống thôi, còn Bệnh Dĩ phải lo cả về mạng sống nữa.

    Nói thêm về thành ngữ, Trung Quốc có rất nhiều thành ngữ có dùng tới bảy và tám(thất và bát).

    VD: Thất quải bát nhiễu là bảy rẽ tám ngoặt. Chẳng có bảy lần rẽ, tám lần ngoặt gì sất, chỉ tả một đoạn đường nhiều chỗ rẽ ngoặt.

    Thất chủy bát triệt: đại ý là bảy miệng tám lưỡi, chỉ lắm mồm lao nhao, mình vẫn chưa nghĩ ra câu gì tương đương của tiếng Việt để thay thế, dùng Mồm năm miệng mười thì chỉ áp dụng cho một người lắm mồm, còn câu trên dùng tả đám đông, nên mình thường chỉ thay thế tả đám đông ồn ào thôi.

    Thất tinh bát lạc: bảy rơi tám vãi, chỉ đồ vật lung tung.

    Loạn thất bát tao: chỉ đồ đạc lung tung, tùy hoàn cảnh, nếu là truyện có chút hài hước có thể dùng từ hầm bà lằng, còn không cứ chuyển thành lung tung lộn xộn cho nó vuông.

    Nhiều thành ngữ khác liên quan tới điển cố, QT thường có ghi đơn giản, bạn nên bỏ thời gian gõ ra để mọi người dễ hiểu, câu nào không có chú thích thì hỏi Google là ra. Có một số có thể thay thế bằng câu tương đương của tiếng Việt thì cứ thay, VD: đánh cỏ động rắn(đả thảo kinh xà) có thể thay bằng Đánh rắn động cỏ, Kiến phong sử đà nghĩa là lái theo chiều gió có thể thay bằng Gió chiều nào xoay chiều nấy…, nhưng một số câu có liên quan tới điển cố, VD: Vừa mất phu nhân lại thiệt quân, không nên thay bằng Mất cả chì lẫn chài.

    4. Nguyên tắc 4:


    Tên chương và tên truyện phải chuyển ngữ sao cho hay hơn bình thường một chút, đừng nên dùng y chang chuyển ngữ của QT. Nếu bạn không chuyển ngữ cho hay được cũng phải giải thích cho người đọc hiểu, không nên để nguyên tên chương là Hán việt, người đọc chắc chắn không hiểu được, và tên chương phần lớn đều hay, thể hiện phần lớn nội dung của chương.

    VD: Tên truyện: Nắm tay người, kéo người đi.

    Nên chuyển thành: “Tay nắm tay, cùng nhau cất bước” sẽ hay hơn

    Tên truyện: Cùng anh dây dưa không rõ.

    Nên dịch thế nào cho hay mình cũng chưa nghĩ ra, nhưng tên truyện như trên chắc chắn không ổn, bên Kites dịch tên truyện trên là “Chạy đâu cho thoát” mình thấy cũng khá ổn.

    Thơ từ ca phú, Luận ngữ, trích dẫn sách…trước hết nên tìm xem có bản dịch rồi hay không, nếu có hãy dùng trong bản edit của bạn và nhớ ghi tên người dịch, lưu ý là khi tìm kiếm bản dịch hãy copy bản phiên âm Hán Việt để tìm, nếu không tìm thấy thì cố thử chuyển ngữ, vì nếu bạn không chuyển ngữ thì người đọc không thể nào hiểu cho nổi. Nếu không chuyển ngữ nổi thì hãy copy bản phiên âm Hán việt, không bao giờ được copy bản Vietphrase một nghĩa vì bản này từ nào dịch được thì dịch, từ nào không dịch được thì thôi, đọc bản này rất là kỳ cục.

    5. Nguyên tắc 5: Nguyên tắc về trình bày.

    Cuối cùng bạn nên trình bày theo đúng format của word, cũng không nên chia chương quá ngắn, nếu không có thời gian edit một chương dài, bạn hãy post với thời gian cách xa nhau một chút, nếu chia chương quá ngắn chỉ chừng 1-2 trang word, người đọc cũng rất là mệt, mà lại cắt ý của tác giả ra quá nhiều phần. Cũng không nên viết quá nhiều bình luận khi edit, có lần mình đọc được bản edit là hai bạn edit gần như chat với nhau trong đó luôn, rồi bình luận, chê bai nhân vật phản diện. Cũng không nên spoil làm độc giả biết trước.

    IV. Lời kết.

    Thời gian gần đây mình có đọc được một số bài báo(đã cũ) về tình hình dịch thuật ở Việt Nam, kết luận chung là “Loạn dịch”. Nào là bản dịch “Lolita”, “Bản đồ và vùng đất”…bị người đọc chỉ ra cả trăm lỗi lớn lỗi nhỏ ở trên mạng, mới gần đây nhất là bản dịch của Tam sinh tam thế – Chẩm thượng thư. Có người nói: Dịch giả không tâm huyết, có người nói: Dịch giả có tiếng rồi, bỏ tiền ra thuê sinh viên dịch từng chương rồi ráp lại, nhận nhuận bút cao hơn để ăn chênh lệch, có người nói: Tiền công dịch thuật ít thế, ai mà tâm huyết cho nổi…Mình nói mấy câu trên có chút ngoài lề với nội dung bài viết, nhưng chỉ có ý là, dịch một tác phẩm là công việc khó đối với cả một dịch giả, thế nên edit còn khó hơn rất nhiều, bạn sẽ mất nhiều thời gian và công sức hơn. Có người nói rằng, người biết tiếng và người dịch là khác nhau, biết tiếng bạn sẽ đọc hiểu còn người dịch thì phải đọc hiểu và có khả năng dùng từ, diễn dạt và viết văn nữa, dịch sao cho đúng, sao cho hay. Vậy mà hiện tại, mình đọc được không ít bản edit hay tới mức không nghĩ rằng đó là bản edit, việc edit này nói khó thì là khó, nói dễ thì là dễ, chỉ cần bạn có để tâm làm nó hay không. Dù bạn edit được một tác phẩm hay hay dở, thì điều đầu tiên phải nói là bạn rất đáng khen, vì bạn đã bỏ thời gian và công sức ra để cho người khác đọc miễn phí. Thế nhưng, đã bỏ thời gian và công sức thì tội gì bạn không cố gắng thêm một chút để có được bản edit hay hơn, để tiếng Việt của chúng ta không bị méo mó bởi những ngôn từ và ngữ pháp chẳng giống ai, để không có thêm nhà báo nào nhảy vào nói rằng: đấy, thấy không, ngôn tình có gì hay, xem cái bọn mê ngôn tình kìa, chúng nó viết gì, đọc gì đâu có ai hiểu đâu. Thế này cũng gọi là tiếng Việt sao?

    Chúc cho tất cả các bạn editor luôn luôn có đủ tâm huyết để hoàn thành những “hố” mà mình đã đào nhé.

    Sửa lần cuối bởi Dee S; 03-26-16 lúc 12:06 PM.


    Người trong hồi ức

    Vũ Tài sản


  2. The Following 8 Users Say Thank You to Vũ For This Useful Post:


  3. #2
    Ngày tham gia
    Oct 2015
    Bài viết
    223
    Ngân lượng
    45,699
    Thanked: 10781
    mình mới đang tập tành edit, đọc bài của Vũ tỷ mà như được khai sáng ^^
    betieuvani Tài sản


  4. The Following User Says Thank You to betieuvani For This Useful Post:


  5. #3
    Ngày tham gia
    Dec 2014
    Bài viết
    80
    Ngân lượng
    845
    Thanked: 91
    đọc bài của Vũ xong, trong đầu chỉ hiện lên 1 chữ "rầu", ko biết khi nào mới dịch được trình độ cỡ đó
    nickynhi Tài sản
    Tang Vân Thư SuminxSungji

  6. The Following User Says Thank You to nickynhi For This Useful Post:


  7. #4
    Ngày tham gia
    Nov 2014
    Bài viết
    516
    Ngân lượng
    43,186
    Thanked: 14654
    Ai cũng cần phải có thời gian để rèn luyện, nhất là công việc edit thì lại cần phải cố gắng thật nhiều chứ không thể ngày một, ngày hai đã có thể edit hay ngay đc.

    Nhớ lại bản thân ngày đầu tập tành Edit, giờ đọc lại cũng thấy "chuối" chết đi đc
    Mới đó cũng gần 3 năm rồi
    Dee S Tài sản


  8. The Following 2 Users Say Thank You to Dee S For This Useful Post:


  9. #5
    Ngày tham gia
    Feb 2016
    Vị trí hiện tại
    Vũng Tàu City Beach
    Bài viết
    692
    Ngân lượng
    52,854
    Thanked: 4386
    Từ vựng và thuật ngữ


    1. Tiết tử: phần đệm, cái chêm

    2. Thể loại “âm soa dương thác”: thường vì sai thời điểm, sai địa điểm mà hiểu lầm nọ nối tiếp hiểu lầm kia

    3. 囧 = : trang wordpress ko hiện ra… Dân mạng hiểu như nghĩa: phiền muộn, bi thương, bất đắc dĩ, bó tay, tóc vàng hoe…

    4. ORZ: Giống hình một người đang quỳ, chống hai tay xuống đất (chữ O là đầu người). Ý nghĩa của Orz này là “hối hận”, “bi phẫn”, “vô vọng”, ngoài ra còn thêm ý nữa là “thất tình”

    5. NPC: NON-PLAYER CHARACTER là nhữg nhân vật đc thiết kế sẵn trog game để hỗ trợ nhân vật của người chơi làm các nhiệm vụ, mỗi NPC trong game đảm nhận các chức vụ khác nhau, do hệ thống nắm giữ, người chơi không thể lập trình theo ý muốn.

    6. Mặt than = mặt đen: mặt lạnh ~ diện vô biểu tình

    7. Manh – 萌 : bắt nguồn dùng là từ “moe” (萌え) trong tiếng Nhật thường dùng cho những nv trong anime-manga
    萌え đồng âm với 燃え, nghĩa là bốc cháy, tức để biểu hiện tình cảm tha thiết, cháy bỏng với nhân vật. Cho nên moe 萌え trở thành 1 kiểu nói ý chỉ rằng đối tượng đc nói đến rất “yêu” (adorable, cute, lovely, etc… nói chung là thay những tính từ khen ngợi) hoặc là biểu hiện rằng người nói rất có cảm tình với đối tượng đc nói đến. (by MeteoraX)

    8. RP: nhân phẩm | JQ: gian tình | SB: ngớ ngẩn | JS: gian thương | TX: đùa bỡn, trêu chọc

    9. Tạc mao: là chỉ người thường nổi khùng, giãy nãy lên nếu như bị chọc vào.

    10. Phun tào: là hay nói mấy lời lải nhải, như rủa, cũng có khi chua ngoa, kiểu độc mồm.

    11. Xuất quỹ: tiếng Anh “come out of the closet” (dịch thẳng): chỉ nam giới (sau lại cũng chỉ nữ giới) bại lộ thân phận đồng chí, hoặc công khai thừa nhận tính hướng của bản thân là đồng tính luyến hoặc song tính luyến.

    12. Cẩu huyết – sái cẩu huyết: cố làm màu.

    13. Đả tương du: lấy xì dầu.

    Ở TQ trước đây, khi muốn mua xì dầu người ta phải mang chai đến cửa tiệm để mua. Cụm từ này phát sinh trong một trường hợp như sau: Có một người MC thực hiện chương trình truyền hình trực tiếp, trong quá trình cần phỏng vấn 1 số người dân, khi MC đó gọi 1 người qua đường và phỏng vấn thì nhận được câu trả lời là “Đả tương du” rồi người này liền đi mất, ý nói là người đó chỉ đi mua xì dầu mà thôi, không quan tâm đến việc khác.

    Sau này từ này thường được dùng trong các trường hợp có 1 người đi ngang qua nhưng không để tâm đến những gì diễn ra bên cạnh.

    14. cực mục: nhìn hết tầm mắt

    15. linh tính: có linh hồn

    16. thượng khí không tiếp hạ khí: hụt hơi, khí trên chưa xong đã tiếp đến khí dưới.

    17. thượng câu quyền: 1 thế võ

    18. thoát tuyến: đi ra khỏi đường/khỏi câu chuyện

    20. hỗn huyết ngoại quốc: dòng máu lai ngoại

    21. thần du đại pháp: phép xuất thần

    22. bôi cụ: cách nói hài hước của ‘bi kịch’

    23. huyên hiêu: ồn ào náo động

    24. thảo nê mã: một câu chửi tục

    25. cơ hữu – 基友 (hảo cơ hữu): chỉ quan hệ bạn bè cùng giới tính đặc biệt tốt như anh em. Cái gọi là “cơ “, chính là dịch âm từ “gay” trong tiếng Anh, ý gọi nam đồng tính luyến, “hữu” là bạn. Bây giờ ko còn giới hạn nam nữ, các cô gái cũng có thể gọi bạn gái thân của mình là cơ hữu.

    26. tục mị: uyển chuyển đẹp đẽ mà phong cách không cao

    27. khấp huyết: khóc ra máu

    28. bội kiếm: vật trang trí kiếm thường gắn ở cán/chuôi kiếm

    29. nhân khí: sự đắt khách/ mức độ được hoan nghênh

    30. câu lan thâm xử: chỗ ca kỹ

    31. bào thối hoạt (bào thối hoạt nhi): công việc mà việc vặt nhiều, việc phải chạy nhiều, mục tiêu hữu hiệu ít, cơ hội phát ngôn ít

    32. tiểu phô tử : sạp hàng

    33. lầm đạo: chỉ sai đường lạc lối

    34. rùa nhìn đậu xanh = vương bát khán lục đậu: ý chỉ hai người tâm đầu ý hợp nhìn thấy nhau, vì mắt rùa cũng tròn tròn, lại có viền màu xanh giống hạt đậu

    35. vi bác: giống như facebook hay twitter, nó là một trang mạng xã hội phổ biến ở TQ -> phát vi bác: giống như twit vậy đó
    sô pha vi bác: chỉ người đầu tiên hồi đáp vi bác, người thứ hai chính là băng ghế, người thứ ba sàn nhà. Giống như trên blog là giật “tem” đó.

    36. NC (viết tắt thường dùng trong đam mỹ võng du), 1 là 牛叉 (ngưu xoa), 2 là 脑残 (não tàn). Gọi fan cuồng thì dùng trường hợp 2, ý là fan suy não.

    37. đại thần: hình như cách gọi khác của “thần tượng” (ngoài nghĩa đại thần triều đình ra)

    38. võng phối quyển: giới kịch truyền thanh

    39. CV: diễn viên đọc kịch truyền thanh

    40. chủ dịch: vai chính

    41. nhân khí: mức độ “hot” / độ ủng hộ, thường dùng cho các idol, ví dụ nói: ”Năm nay nhân khí của idol X xếp đầu bảng”

    42. tử trung fan: fan liều chết trung thành

    43. phiên xướng: là thể hiện lại ca khúc của người khác bằng cách mới

    44. âm tần: audio

    45. kịch cảm: cảm nhận / cảm giác về nội dung kịch

    46. Pia kịch: tiến hành chỉ đạo và sửa chữa kịch cảm, ngữ điệu, phát thanh của CV vân vân…

    47. phát thiếp: từ chuyên dụng trên mạng TQ, nghĩa là post bài, mở topic; còn có cách gọi khác là mở “lâu”, khách đọc gọi là “leo lâu”, các phản hồi (comment) phía dưới gọi lâu 1, lâu 2, lâu…

    48. vi hòa: vi hòa cảm, chính là chỉ bởi vì không thích ứng không hoà hợp với hoàn cảnh xung quanh mà cảm thấy vô pháp dung nhập vào đó, sản sinh cảm giác xa cách. Ví dụ như khi một người xuất ngoại, đối mặt bối cảnh văn hóa bất đồng thì có thể dùng “vi hòa cảm”.

    49. khoác mã giáp = clone: nick giả, ID trá hình chứ ko phải cái chính thức

    50. giao tập: cùng xuất hiện

    51. thần tư: phong thái và diện mạo

    52. bích nhân: chỉ trai gái xứng đôi vừa lứa

    53. tiểu tư : gã sai vặt

    54. “nổ tung nồi” (tạc khai oa) (炸开锅): ý chỉ có tin tức / hành động nào đó làm chấn động dư luận

    55. nữ thi: thi thể nữ

    56. pháp phục: tên gọi quần áo của đạo sĩ

    57. quan cân: các loại mũ bằng vải thời xưa

    58. pháp đại: túi đựng đồ làm phép (đại = túi)

    59. đào mộc kiếm: kiếm gỗ đào

    60. đại (trạch tử): nhà lớn

    61. trướng phòng: phòng thu chi

    62. tự gia: nhà mình

    63. thanh trúc tán: dù trúc

    64. thành giao: ngoại ô

    65. nháo quỷ: ma quỷ làm loạn

    66. tẫn chiết yêu: cúi rạp người, ý nói là rất tôn sùng

    67. vi tiếu: cười nhẹ / cười mỉm/ cười ý vị/ cười đểu (tùy ngữ cảnh mà cười)

    68. ngươi muội: một kiểu chửi

    69. độc nhạc: vui một mình

    70. đoạt khôi: tiếm ngôi/ giành vị trí

    71. sáo thoại: lời khách sáo/ lời sáo rỗng

    72. đạt nhân: người biết tuốt

    73. bạch nhãn lang (白眼狼) — hình dung người vô tình vô nghĩa, tâm địa hung ác, vong ân phụ nghĩa.

    74. xuân khê: suối mùa xuân

    75. * Ý thức lưu (dòng ý thức): Ý thức lưu văn học phiếm chỉ tác phẩm văn học chú trọng miêu tả nhân vật có trạng thái ý thức lưu động, bao gồm ý chí thanh tỉnh, vô ý thức, ý chí mộng ảo và ngôn ngữ trước ý thức. “Ý thức lưu” là từ ngữ tâm lý học. Nhà tâm lý học nước Mỹ William James đưa ra khái niệm “Ý thức lưu”: “Ý thức lưu không phải sự liên tiếp ngắt quãng, mà là không ngừng chảy. Dùng một con “sông” hoặc là một dòng “nước chảy” làm tỉ dụ để biểu đạt nó là tự nhiên nhất.

    76. trúng cử: Khoa cử thời xưa gọi đậu khoa thi hương là trúng cử

    77. tử tướng: một loại khẩu ngữ, thường dùng giữa hai người có quan hệ khá thân thiết, có chứa ý làm nũng. Ý chỉ bộ dạng đã chết (tử dạng).

    78. văn thanh: là một danh từ, ý chỉ tất cả suy nghĩ của bản thân nhờ văn bản diễn đạt, hay những ảo tưởng và ảo giác biến đổi thành cảm thụ chân thực của thân thể.

    79. trang B: (zhuāng bī), hành vi khoe khoang này nọ để tự mình thỏa mãn thói ưa hư vinh, thậm chí có tính chất lừa dối.

    80. bạch nhãn lang: hình dung người vô tình vô nghĩa, tâm địa hung ác, vong ân phụ nghĩa.

    81. hoa hắc ti nhung: Do một công ty gây giống hoa cỏ của Anh tạo ra từ hoa khiên ngưu lùn màu đen. Trên ảnh chụp, màu đen đó tôn vinh lên ánh sáng của ban ngày, cho nên người ta tặng một cái
    tên thập phần trang nhã cho loại thực vật biến dị đặc biệt này —— “hắc ti nhung” (tấm lưới đen/mảnh ren đen).

    82. hương chương và ngô đồng là những loại cây lớn, được trồng để làm cảnh và lấy bóng mát.

    83. thực phẩm tốc đông: là thực phẩm thông qua nhiệt độ thấp cấp tốc (dưới -18 độ) gia công ra, lượng nước trong nó sẽ không khô cạn, với lại dưới nhiệt độ thấp thế này, vi sinh vật trên cơ bản sẽ không sinh sôi nẩy nở.

    84. uyển ước, động nhân: uyển chuyển và hàm xúc, động lòng người

    85. công cộng khóa: là một môn bắt buộc, là khóa học mà bất kì học sinh chuyên ngành của trường đại học cao đẳng hay trung học nào đều phải tham gia. Công cộng khóa ở trường ĐHCĐ, chủ yếu có lý luận chính trị, đạo đức, ngoại ngữ, thể dục, sinh sản…

    86. lữ lộ: con đường lữ hành

    87. hoành thụ phiết nại: các kiểu (lối) viết chữ của Trung Quốc

    88. tiểu tư: là danh từ bắt đầu lưu hành tại Trung Quốc đại lục từ năm 1990, vốn là gọi tắt của “giai cấp tiểu tư sản”, đặc biệt hướng tới lớp người trẻ tuổi có tư tưởng sinh hoạt phương Tây, theo đuổi
    những thể nghiệm nội tâm, hưởng thụ vật chất và tinh thần.

    89. khúc chiết: lòng vòng khúc khuỷu phức tạp

    90. vi diệu: bé nhỏ và thần bí, lạ lùng

    91. sáo lộng: sáo = phủ/bọc, lộng: làm/động

    92. thượng thủ: là một loại phương vị của lễ nghi, vị trí ngồi đầu

    93. ân khoa: là khoa thi gia ân không thường xuyên khi trong nước có việc vui mừng như lễ Đăng Quang, lễ Vạn Thọ

    94. cung thuận: cung kính và nghe lời

    95. quạt đom đóm (phác lưu huỳnh): người ta thường dùng một chiếc quạt đẹp để quạt đom đóm, ánh sáng xuyên qua chiếc quạt đó làm cho bức tranh trên quạt lung linh hơn, một kiểu vui đùa mà
    các tiểu thư ngày xưa rất thích.

    96. mã trách trấn chỉ: đồ chặn giấy hình châu chấu

    97. điền hoàng thạch (điêu = khắc): điền hoàng thạch, gọi tắt “điền hoàng”, thứ đá có màu vàng sinh ra hai bên chân ruộng ở vùng sông Thọ Sơn xã Thọ Sơn thành phố Phúc Châu, Trung Quốc, là một trong những loại đá có phẩm chất tốt đẹp nhất ở Thọ Sơn, ngọc tỷ cũng được khắc từ loại đá này.

    98. kiều mà lại mị: kiều diễm và quyến rũ (vốn cũng không khó hiểu lắm nhưng mình vẫn chú thích)

    99. thụy thú: thú đang ngủ

    100. lương đình: chòi nghỉ mát

    101. liên châu pháo: một loại pháo bắn liên tục, kiểu như súng liên thanh

    102. ngữ cảm: trong giao lưu ngôn ngữ chỉ sự phản ánh thói quen sử dụng, giải thích sự biểu đạt của ngôn ngữ gọi là ngữ cảm

    103. thánh kinh Khải kỳ lục (còn gọi là ”Nhược vọng Mặc kỳ lục”): là chương cuối cùng của kinh Tân Ước (thánh kinh của đạo Thiên Chúa), có người nói là môn đồ của chúa Giê-su viết, chủ yếu là báo động trước về tương lai, bao gồm tiên đoán ngày tận thế: liên tiếp tai nạn lớn, thế giới hướng về hủy diệt, quang cảnh ngày diệt vong, cũng miêu tả thẩm lí và phán quyết cuối cùng, trọng điểm đặt ở việc chúa Giê-su trở lại.

    104. nhãn đao: nhãn = mắt, hay nói như bây giờ là “ánh mắt hình viên đạn”

    105. I. l. d. : là viết tắt “Tôi yêu bạn” trong tiếng Đức, thường dùng cho thư.)

    106. tuệ căn: chỉ lĩnh ngộ được chân lý nhà Phật, chỉ sự thông minh

    107. nhàn chức, mỹ soa: chức quan nhàn tản, công việc dễ dàng

    108. mặc đàm: con đầm đen


    Tên riêng hoặc nhân xưng đại danh từ




    1. Họ Hoa: ý chỉ những người đẹp.

    2. A Trạch aka “trạch nhân”: tên gọi ám chỉ “trạch nam” hoặc “trạch nữ” – mấy cô/cậu ăn uống ngủ nghỉ chơi bời abc xyz gì cũng đều ở trong nhà, hầu như ko đi đâu ra khỏi nhà. “Trạch” nghĩa là “nhà”.

    3. Tiểu bát phụ: người đàn bà đanh đá chanh chua.

    4. Hán gian: ý chỉ kẻ phản bội nương nhờ quân xâm lược của dân tộc Hán; còn hiểu là gã gián điệp.

    5. Dương Bạch Lao: Nhân vật trong bộ phim (mình tạm dịch) “Con gái Bạch Mao”. Dương Bạch Lao là hình tượng điển hình nông dân chưa thức tỉnh thế hệ trước dưới áp bức trường kỳ của giai cấp
    địa chủ phong kiến. Kết cục bi thảm của ông là sự vạch trần hữu lực và lên án huyết lệ đối với giai cấp địa chủ phong kiến vạn ác.

    6. Liễu Hạ Huệ: người đàn ông đứng đắn ko tà tâm.
    Liễu Hạ Huệ một hôm dừng chân nghỉ qua đêm trước cổng thành, có một phụ nữ cũng đến trú chân. Trời lạnh người phụ nữ này bị cảm lạnh rét cóng, Liễu Hạ Huệ liền cởi áo mình ra khoác lên người cô ta rồi ôm vào lòng để cô ta hết lạnh, mà trong lòng không hề có một chút tà tâm.Lại có lần Liễu Hạ Huệ ngồi xe ngựavới phụ nữ, đi cả quãng đường dài mà mắt ông chỉ nhìn thẳng chứ không hề liếc ngang lần nào.

    7. Âu Cát Tang – 欧吉桑 : là dịch âm tiếng Hoa của từ oji-san trong tiếng Nhật, bởi vì 欧吉桑 có âm đọc là ōu jí sāng nghe gần tương tự như oji-san, đây là cách xưng hô những người đàn ông tương đối lớn tuổi, đại khái ngang cỡ “bác” hoặc “ông”, thành ra anh nào trẻ mà bị gọi oji-san thì coi chừng là đang bị nói xoáy đấy.
    Tương tự có 欧巴桑 (âu ba tang, pinyin: ōu bā sāng) là dịch âm của oba-san, để gọi những người phụ nữ lớn tuổi.
    Một từ hay gặp nữa là 卡哇噫 (tạp oa y), nó là dịch âm của kawaii (cute) trong tiếng Nhật, vì 卡哇噫 phát âm là ka wa yi. (by MeteoraX)

    8. “Sự nhi mụ” : nguyên là Bắc Kinh phương ngôn, chỉ chính là thường ngày bụng dạ hẹp hòi, không có việc gì tìm việc, chuyện đặc biệt nhiều, những nữ nhân thích chõ mõm vào lại lầm bầm lẩm bẩm khiến người chán ghét, còn có “Bát quái bà” cũng mang nghĩa tương đương.

    9. tử đảng: người bạn thật sự rất thân thiết

    10. người Namek: tộc người có sức mạnh trong Bảy viên ngọc rồng

    11. mặt lạnh Xiao Jiang: hình dung một diễn viên hài kể chuyện cười thì bản thân không cười, để hình thành hiệu quả đối lập

    12. Hồng Môn yến: Bữa tiệc tại Hồng Môn đại điện có tính chất quyết định đối với vận mệnh cả dân tộc Trung Hoa. Tóm lược mối quan hệ ngang trái giữu vị anh hùng Hạng Vũ và Hán Thái tổ Lưu Bang, là cuộc đấu trí quyết liệt giữa các vị quân sự, cũng như những kế hoạch thâm sâu ẩn đằng sau bữa tiệc Hồng môn.

    13. lăng đầu thanh: chỉ người nào đó làm việc không có đầu óc, hoặc không động não, chưa bao giờ phân tích phán đoán nội dung tính chất thị phi đúng sai vân vân đã mù quáng áp dụng hành động, đánh giá.

    14. Lưu mỗ mỗ (bà ngoại Lưu): Một nhân vật rất được yêu thích trong Hồng Lâu Mộng, biểu tượng cho phẩm chất truyền thống tốt đẹp của người Trung Hoa. Bà là một người nông dân nghèo khổ nhưng lương thiện chính trực, thông minh nặng tình nghĩa và giàu nghị lực. Trong Hồng Lâu Mộng, Tào Tuyết Cần đã miêu tả già Lưu ba lần vào phủ Vinh Quốc, và là người chứng kiến sự hưng vong của nơi này, một nơi giàu sang phú quý trái ngược với cuộc sống của bà. Khi bà đến chơi, Giả mẫu thương xót người đàn bà nghèo khổ quê mùa như bà nên đã mở tiệc khoản đãi để bà có cơ hội được nếm mùi đời. Ngày nay người ta gọi những người chưa gặp qua đủ mọi việc đời là Lưu mỗ mỗ.

    15. Bán Tiên: võ lâm có một thầy tướng số lừng danh một thời tên là Vương Bán Tiên, trong suốt năm mươi năm trôi qua, ông ta chỉ xem tướng cho có ba nhân vật, tài năng xem tướng của ông độc nhất vô nhị.

    16. Chu dịch: thực ra được coi là một tác phẩm (bói toán) cấu thành từ Kinh dịch và Thập Dực (sau này do có quá nhiều người biên soạn lại và bổ sung nên số truyện không phải là nhỏ)

    17. Chung Tử Kỳ và Bá Nha: Bá Nha (làm quan) và Tử Kỳ (tiều phu) là đôi bạn tri âm thời Xuân Thu Chiến Quốc. Một ngày nọ, Bá Nha gảy đàn, Tử Kỳ ở ngoài nghe trộm… (chuyện kể) -> kết luận: không ai đàn hay bằng Bá Nha, không ai biết nghe đàn bằng Tử Kỳ.

    18. kiểm cư tiên sinh: chắc là người quản lí ăn ở

    19. Lưu Tư Phấn: nam, người Quảng Đông, sinh năm 1944. Hiện giữ chức văn liên chủ tịch tỉnh Quảng Đông,viện trưởng học viện mỹ thuật Quảng Đông, uỷ viên thường vụ hội nghị hiệp thương chính trị tỉnh Quảng Đông…

    20. Long Sĩ Đầu: là ngày lễ truyền thống dân gian của Trung Quốc, dân tộc Hán và dân tộc khác đều có. Long Sĩ Đầu là mùng hai tháng Hai âm lịch hàng năm, tục xưng Thanh Long tiết, truyền thuyết là thời kì rồng ngẩng đầu; lúc này, dương khí tăng trở lại, mặt đất tuyết tan, bắt đầu vụ xuân, chuẩn bị canh tác. Nhân dân chúc mừng “Long đầu tiết”, để biểu thị kính rồng cầu mưa, mong ông trời phù hộ cho mùa thu hoạch.

    21. đồng môn: bạn cùng trường, đồng liêu: đồng nghiệp

    22. thế tử: tên gọi riêng cho con trai của thiên tử / quan lại thời Chu

    22. hồng tụ thiêm hương: nữ tử trẻ tuổi xinh đẹp

    23. thiếu phụ: phụ nữ trẻ đã có chồng từ 25-40 tuổi

    24. Mao Đặng Tam: gọi tắt của tư tưởng Mao Trạch Đông, lý luận Đặng Tiểu Bình, ba tư tưởng đại biểu quan trọng nhất.

    Câu văn Hán Việt / thành ngữ từ bốn chữ

    1. Xuất sư vị tiệp: từ câu thơ “Xuất sư vị tiệp thân tiên tử” – xuất chinh chưa báo tin thắng trận mà người đã chết.

    2. Ốc lậu thiên phùng thâu đêm vũ: nhà dột gặp mưa suốt đêm (= họa vô đơn chí)

    3. Mã bất đình đề: ngựa ko ngừng vó.

    4. Vụ lý khán hoa: ngắm hoa trong sương mù.

    5. Bách chiết bất nạo: trăm lần bẻ cũng không cong (~ từ chối bao lần cũng không nản lòng).

    6. Hảo mã bất cật hồi đầu thảo: ngựa tốt không ăn cỏ ở phía sau.

    7. Thuận lý thành chương: sự việc cứ thế mà diễn ra thuận lợi.

    8. Mạn bất kinh tâm: thong thả chứ ko có gì mà sợ hãi.

    9. Thoại lý hữu thoại: trong lời còn có lời = VS = Ý tại ngôn ngoại: ý ở ngoài lời.

    10. Khanh khanh ta ta: cách gọi vợ chồng, tình nhân thân mật.

    11. Hoa chi loạn chiến ~ hoa lá tơi bời.

    12. Thô tâm đại ý: chỉ người lòng dạ đơn giản hay sơ ý.

    13. Xuất song nhập đối: đi ra đi vào có đôi có cặp.

    14. Các hành kỳ đạo, kính vị phân minh:

    Các hành kỳ đạo: mỗi người có một con đường đi riêng của họ.
    Kính vị phân minh: sông Kính và sông Vị phân biệt. Người ta nói rằng rất dễ xác định nguồn nước tại ngã ba sông Kính và sông Vị. Nước từ sông Kính thì nhiều bùn, trong khi nước từ sông Vị thì rất trong. Mặc dù nước của hai con sông bị trộn lẫn vào nhau, ranh giới giữa chúng lại thật rõ ràng.

    15. ‘Phong tiêu tiêu hề dịch thủy hàn‘ trích câu thơ :

    “Phong tiêu tiêu hề dịch thủy hàn, tráng sĩ nhất khứ hề bất phục phản” – “风萧萧兮易水寒, 壮士一去兮不复返” – “Gió đìu hiu sông Dịch lạnh lùng, tráng sĩ một đi không trở về”.

    16. Dũng sĩ chặt tay: dũng sĩ bị rắn cắn vào bàn tay, liền lập tức chặt đứt cổ tay, để tránh khỏi độc tính lan truyền toàn thân, chỉ hành động dứt khoát không chần chờ.

    17. Ý do vị tẫn: ý chưa thỏa mãn

    18. Yểm nhĩ đạo linh: che tai trộm chuông, ý kiểu như tự lừ a mình dối người để làm gì đó

    19. Lai nhi bất vãng phi lễ dã: không được tiếp nhận mà không báo trả

    20. Lưỡng tiểu vô sai: hai đứa nhỏ ko khác/rời nhau, ý chỉ sự thân thiết từ khi còn bé

    21. Yêu triền vạn quán: cột vạn xâu tiền quanh eo

    22. Địa chủ chi nghị: tình nghĩa chủ đất (hoặc chủ nhà với khách)

    23. Nhất kinh nhất sạ: chỉ người tinh thần vô cùng căng thẳng hoặc hưng phấn, hành vi cử chỉ khoa trương khác thường, khiến người chấn kinh. Có lúc cũng chỉ biểu tình và cảm tình đều rất phong phú và đúng chỗ.

    24. Quỵ tha y bản: một loại thủ đoạn nghiêm phạt thời cổ, yêu cầu người bị nghiêm phạt quỳ gối lên tấm gỗ giặt quần áo (cái bàn xát), bởi vì trên đó có răng cưa, đầu gối sẽ phi thường thống khổ.
    Thời nay chủ yếu dùng trong trường hợp muốn nói lão công chịu lão bà nghiêm phạt.

    25. Tiết ai thuận biến: nén bi thương mà giải quyết biến cố, là một cái thành ngữ dùng khi viếng tang lễ.

    26. Tây Tử phủng tâm: chỉ bệnh trạng của mỹ nữ; xưa có chuyện Tây Thi khi buồn sầu thường ôm tim nhíu mày nhưng vẫn rất đẹp.

    27. Bất y bất nhiêu: ko nghe theo ko buông tay

    28. Nhất châm kiến huyết: một châm thấy máu

    29. Bạo liêu chi dạ: đêm có quá nhiều sự việc ko ngờ đến xảy ra

    30. Nhất kinh nhất sạ: chỉ người tinh thần vô cùng căng thẳng hoặc hưng phấn, hành vi cử chỉ khoa trương khác thường, khiến người chấn kinh. Có lúc cũng chỉ biểu tình và cảm tình đều rất phong phú và đúng chỗ.

    31. Quỵ tha y bản: một loại thủ đoạn nghiêm phạt thời cổ, yêu cầu người bị nghiêm phạt quỳ gối lên tấm gỗ giặt quần áo (cái bàn xát), bởi vì trên đó có răng cưa, đầu gối sẽ phi thường thống khổ. Thời nay chủ yếu dùng trong trường hợp muốn nói lão công chịu lão bà nghiêm phạt.

    31. Thành nhân chi mỹ: thành toàn cho người khác

    32. Bả tửu lâm phong: nâng chén rượu đón gió

    33. Dư âm nhiễu lương: âm thanh vang văng vẳng không dứt

    34. Ai chuyển cửu tuyệt: chỉ tiếng kêu của vượn và khỉ, dị thường thê lương (vd: Trong sơn cốc hoang vu truyền đến tiếng vượn gọi, bi ai uyển chuyển, thật lâu mới tiêu thất.)

    35. Minh thần hạo xỉ: môi tươi răng sáng

    36. Đắc nhi tru chi: ai cũng có thể giết/trừng phạt/chỉ trích hắn

    37. Nhạ hỏa thượng thân: dẫn lửa lên người

    38. Lạc hạ duy mạc: hạ xuống màn che

    39. khanh mông quải phiến: lừa gạt hại người

    40. khả ngộ nhi bất khả cầu: Có những chuyện, chỉ có ngẫu nhiên gặp mặt mới có khả năng, cầu là cầu không được.

    41. nhất pháo nhi hồng: một phát liền “đỏ”

    42. hồng đáo phát tử = đỏ đến phát tím: “đỏ” chỉ mức độ nổi tiếng của thần tượng, đến phát tím là “đỏ” lắm rồi

    43. lãnh thanh quả ngôn: lạnh lùng ít nói

    44. thân lâm kỳ cảnh: người lạc vào cảnh giới kỳ lạ

    45. nhất lộ phiêu hồng: một đường bay đỏ

    46. kiến quái bất quái: thấy chuyện kì quái mà không tò mò / thấy kì quái

    47. Đương thì minh nguyệt tại, tằng chiếu thải vân quy (Lúc vẫn có ánh trăng, từng chiếu áng mây về): Ý chỉ hồi ức thương cảm, tuy là thống khổ, cũng là hạnh phúc, dù sao đã từng sở hữu nên khó quên được. Minh nguyệt mãi mãi bất biến, nhân thế tang thương hay thay đổi; áng mây vừa biểu thị vẻ đẹp lộng lẫy, cũng ẩn hàm “dễ tan”, luyến tình mỹ hảo dễ dàng tiêu tan.

    48. từ giản ý túc: chữ ít mà ý đủ

    49. phù quang mị ảnh: ánh sáng chập chờn, hỉnh ảnh ma mị

    50. nhược nhục cường thực: trong thế giới động vật, con nào mạnh hơn sẽ ăn kẻ yếu, kiểu như cá lớn nuốt cá bé

    51. đạo cao nhất xích ma cao nhất trượng: trích từ Tây Du Kí của Ngô Thừa Ân, nguyên ý là cảnh báo cho người tu hành phải cảnh giác với dụ hoặc từ ngoại giới, sau khi đạt được thành tựu nhất định thường sẽ phải đối mặt trắc trở lớn hơn nữa.

    52. đê mi thuận nhãn: ngoan ngoãn biết nghe lời

    53. trất bỉ lân soa = trất bỉ lân thứ: nối tiếp nhau san sát, trất bỉ = dày như răng lược, lân soa = xếp như vảy cá

    54. thùy liêm thiên lý: rủ mành nghìn dặm

    55. vi phong nhập vũ: gió nhẹ thổi vào mưa; tà phong tế vũ: gió thổi nghiêng mưa bụi

    56. liễm diễm tú sắc: nước mênh mông / sóng dồn dập màu sắc đẹp mắt

    57. dẫn nhân thần si: khiến người si mê

    58. tà phi nhập tấn: chỉ lông mày mọc nghiêng vào tóc mai

    59. ngọc đóa thốc lập: ngọc đóa = ám chỉ mấy đóa hoa như ngọc, thốc lập = mọc thành cụm đứng thẳng

    60. bất khả phương vật: không thể phân biệt / vẻ đẹp tuyệt vời

    62. bạch thủ bất ly: bạc đầu không rời

    63. Sinh sinh bất tức: sinh sinh: thuật ngữ triết học Trung Quốc, chỉ sự biến hóa và sự vật mới phát sinh; bất tức = không thôi: không có ngưng hẳn => Không ngừng mà sinh trưởng, sinh sôi nẩy nở tiếp.

    64. vi tình sở khốn: khổ vì tình

    65. Thanh hoàng bất tiếp (thời kì giáp hạt, những lúc gặp chuyện):
    Thanh: chỉ hoa màu chưa chín. Hoàng: chỉ hoa màu đã chín. Hàm nghĩa: Hoa màu còn chưa chín hẳn, lương thực đã ăn hết, ẩn dụ nhân lực, của cải bởi vì nhất thời chưa tiếp ứng được mà tạm thời thiếu thốn.

    66. Vinh khô tùy duyên: vinh = tươi tốt, khô = héo khô
    Cảnh ngộ nhân sinh cũng không có sự chia ly nào là tuyệt đối xấu, cảnh do tâm sinh, hết thảy do tâm mà ra. Bản tính trong sáng, trí tuệ, mới là tất cả ý niệm.

    67. Ngộ hợp tẫn hưng: ngộ hợp = gặp nhau và xây dựng mối quan hệ
    Tuân theo lẽ tự nhiên, vạn sự tùy duyên, không hứa hẹn cái gì, chỉ cần chính mình đi làm là được.

    68. Thân vô thải phượng song phi dực, tâm hữu linh tê nhất điểm thông: trích thơ Vô Đề của Lý Thương Ẩn, ý nói mặc dù thân bị chia cách hai nơi nhưng tâm ý vẫn tương thông như có thần giao cách cảm.

    69. Nhân ế phế thực: vì chuyện nhỏ mà bỏ việc lớn – vì mắc nghẹn mà bỏ ăn

    70. Dẫn kinh cư điển: trích dẫn điển tích điển cố

    71. Điểm đáo tức chỉ: đối người thông minh, không cần nhiều lời, chỉ cần nói một chút thì sẽ hiểu rõ.

    72. Mượn hoa hiến Phật: hưởng phúc của người, xem như đồ của người cũng là của mình

    73. Hữu khẩu vô tâm: ác miệng nhưng trong lòng không ác

    74. Cử án tề mi: chỉ người vợ kính yêu chồng, hoặc vợ chồng cùng kính trọng và thương yêu lẫn nhau.

    75. Cao xử bất thắng hàn: ý chỉ những người quyền cao chức trọng, không có bạn tri tâm, chỉ có sự lạnh lùng và cô độc; hoặc là nói đứng ở nơi cao không chịu nổi cái lạnh giá ở nơi đó.

    76. Dĩ sắc thị nhân giả, sắc suy tắc ái trì: người dùng nhan sắc để phụng sự người, nhan sắc phai nhạt thì cũng sủng ái cũng ít theo

    77. Châu anh toàn chuyển tinh túc diêu, lục cung hồng tụ nhất thì chiêu:

    Dịch nghĩa: Ngọc lụa xoay tròn tinh tú rung động, hồng tụ lục cung cùng nhau vẫy gọi.

    78. Nhân tâm bất túc xà thôn tượng (lòng người không đủ rắn nuốt voi): khi lòng tham của con người còn chưa đủ, thì cũng như một con rắn muốn nuốt một con voi vậy, hàm nghĩa là tai vạ đến nơi rồi.

    79. lô hỏa thuần thanh: dày công tôi luyện (tương truyền Đạo gia luyện đan, nhìn vào lò, thấy ngọn lửa lê màu xanh, coi là đã thành công,ví với sự thành thục của học vấn, kĩ thuật..)

    80. nhất cổ tác khí: một tiếng trống khí thế bừng bừng

    81. vọng tử thành long: hi vọng con có ngày thành đạt

    82. nhược thủy tam thiên: Hồng Lâu Mộng hồi chín mươi mốt, Cổ Bảo Ngọc có một câu tỏ tình kinh điển: “Mặc cho ba nghìn nhược thủy, ta chỉ uống một bầu này”. Câu này đã trở thành lời thề nguyền tình cảm giữa nam nữ, đại ý là sẽ chung thủy trong tình yêu và chỉ cần một người.

    83. cường nhân sở nan: buộc người khác phải làm chuyện quá sức

    84. vô khả hậu phi: chuyện không có gì đáng trách

    85 quỳnh tương ngọc lộ: ý chỉ những thứ nước tinh túy và thơm ngon, quý giá

    86. quân tiền thất nghi: không làm đúng lễ nghi trước mặt vua

    87. Mao Toại tự tiến (Mao Toại tự đề cử mình): Tự tin vào khả năng đảm đương trách nhiệm quan trọng mà mạnh dạn tự tiến cử. Dựa theo tích: Khi quân đội nước Tần bao vây nước Triệu, Bình Nguyên Quân nước Triệu phải đi cầu cứu nước Sở. Môn đệ Mao Toại của ông tự đề xuất được đi cùng. Ở đó, may nhờ tài năng của Mao Toại mà Bình Nguyên Quân mới thu được thành công như ý muốn.

    88. giai tử cộng hưởng: hai người cùng hưởng

    89. tứ lạng bạt thiên cân: (bốn lạng bạt ngàn cân) ý là dùng lực lượng rất nhỏ giải quyết vấn đề rất lớn, lấy ít thắng nhiều

    90. cộng độ giai tiết: cùng chung ngày vui

    91. ngữ kinh tứ tọa: lời làm tất cả mọi người xung quanh phải kinh sợ

    92. vị cực nhân thần: đứng đầu quan và dân

    93. nhất ngữ thành sấm: một lời nói ra thành lời tiên tri

    94. ngã kiến vưu / do liên: hình dung nữ tử dung mạo mỹ lệ động nhân

    95. tam giáo cửu lưu: đủ mọi hạng người

    96. nhất thưởng tham hoan: trộm hưởng vui vẻ nhất thời

    97. kỳ soa nhân ý: cờ không như ý người

    98. thành xuân thảo mộc: thành xuân = thành thị mùa xuân, thảo mộc = cây cỏ

    “Thành xuân thảo mộc” là những cảnh sắc sáng sủa tươi đẹp, hàm ý chỉ những điều vui vẻ tươi sáng

    99. ô đề nguyệt lạc: ô đề = tiếng kêu của quạ đen, nguyệt lạc = mặt trăng khuyết

    “Ô đề nguyệt lạc” chỉ cảnh sắc hoang vu tăm tối, mang hàm ý những điều không hay

    100. thản thành tương kiến: có thể hiểu là một quá trình gặp gỡ và quen biết nhau bình thản và chân thành, không giấu diếm lừa dối nhau, chân thành với đối phương, đem ý nghĩ của mình nói cho đối phương mà không hề ngụy trang.

    Điển cố xuất xứ: Lưu Tư Phấn “Bạch môn liễu · kê minh phong vũ” đệ ngũ chương: “Cung Đỉnh Tư chọc thủng nó, là đang cố gắng tạo thành một loại ấn tượng thản thành tương kiến, khiến đối phương cởi bỏ nghi ngờ.”

    Từ gần nghĩa: xích thành tương kiến

    101. phong hồi lộ chuyển: chuyện có thể cứu vãn / xoay chuyển được

    102. thanh thanh sở sở, minh minh bạch bạch: hai cụm đều mang nghĩa là rõ ràng, vì mục đích muốn nhấn mạnh nên mới lặp lại như vậy

    103. một cảnh đẹp liễu ám hoa minh: ý nói là một tia hi vọng

    104. thiên lôi câu động địa hỏa: sét đánh xuống kéo theo đó làm cháy nổ cả bom mìn dưới lòng đất hoặc dung nham trong lõi Trái Đất v…v…, ở đây ý chỉ tình cảnh náo động long trời lở đất

    105. tự chính khang viên: tự = chữ, chính = chuẩn, khang = giọng, viên = tròn; hình dung đọc nhấn rõ từng chữ một cách chuẩn xác; giọng hát thuần thục.

    106: ngân trang tố khỏa: hình dung một thế giới màu trắng sau khi tuyết rơi, không có một chút màu sắc, vô cùng thanh khiết, sạch sẽ, một cảnh sắc mỹ lệ mùa tuyết.



    Link xem thêm: https://tieuthao.wordpress.com/ti%E1...-di%E1%BB%83n/
    Sửa lần cuối bởi An Cella; 05-02-16 lúc 02:49 PM.
    An Cella Tài sản


  10. The Following 3 Users Say Thank You to An Cella For This Useful Post:


  11. #6
    Ngày tham gia
    Feb 2016
    Vị trí hiện tại
    Vũng Tàu City Beach
    Bài viết
    692
    Ngân lượng
    52,854
    Thanked: 4386
    Những thứ vặt vãnh thường gặp trong tiểu thuyết convert


    Âm kém dương sai: thường vì sai thời điểm, sai địa điểm mà hiểu lầm nọ nối tiếp hiểu lầm kia

    Bách hợp: nữ x nữ, thể loại chỉ có tình yêu giữa hai cô gái, không có sự chen chân của đàn ông.

    Báo thù rửa hận: như tên

    Biến thân: nữ biến nam, nam biến nữ, thể nghiệm một cuộc đời mới

    Bố y cuộc sống: cuộc sống đơn giản, bình dân, phố phường

    Cấm luyến/ loạn luân: như tên

    Cán bộ cao cấp: con nhà quan, tai to mặt lớn, bối cảnh chính trị

    Chủng điền (làm ruộng) văn: thường là truyện về gia đình, đọc bình bình dễ chịu, không nhiều cao trào, miêu tả những thứ lông gà vỏ tỏi thường nhật

    Cung đấu: nữ nv đi vào hậu cung, so trí so tài cùng các phi tử hoàng hậu, âm mưu đầy rẫy, thi cốt chồng chất, phản loạn mưu nghịch, v.v…

    Cung đình hầu tước: bối cảnh cung đình, hoàng gia

    Cường thủ hào đoạt: vô lý cướp đoạt, dùng vũ lực/thế lực thưởng tới, thường ám chỉ cường bạo (đoán, ta ít xem loại này)

    Đam mỹ: namx nam, đồng tính nam, gay

    Dân quốc: như tên

    Dị giới: bối cảnh trong một thế giới khác (gần giống Tây phương trung cổ), thường có ma pháp võ thuật, nv đến ma-võ học viện làm mưa làm gió, luyện dược, luyện khí, gặp gỡ người
    thần điện, các loài sinh vật trong tiểu thuyết Tây phương như rồng, tinh linh… Kết hợp văn hóa Trung Tây.

    Dị giới mạo hiểm: gần như dị giới nhưng thiên về thám hiểm

    Đô thị tình duyên: viết trong bối cảnh hiện đại…

    Đoản văn: truyện ngắn

    Dốc lòng: nhân vật chính phấn đấu vươn lên (học tập, làm giàu)

    Đồng nhân/ đồng nghiệp: fanfic

    Đồng tranh: (? Chưa đọc chưa biết)

    Gia đấu/ trạch đấu: thường nói về sinh hoạt trong đại gia đình, 7 cô 8 bà đấu trí đấu dũng, gom tiền tranh quyền lợi v.v…

    Giá không: không có thật, ảo tưởng

    Giải trí vòng/ ngu nhạc quyển: show-biz

    Giang hồ: như tên

    Gương vỡ lại lành: hàn gắn lại mối quan hệ đã bị rạn nứt, thường nói về sau khi ly hôn hoặc sau khi chia tay

    Hắc đạo: xã hội đen

    Hào môn ân oán: như tên

    Hoa quý mùa mưa/ hoa quý vũ quý (花季雨季): nói về tuổi thanh xuân (17-18), đầy sức sống, bỡ ngỡ, khát vọng…

    Huyền ảo/huyền huyễn: bất cứ cái gì supernatural

    Huyền huyễn dị giới: như dị giới

    Huyền huyễn ngôn tình: truyện chủ yếu nói về tình cảm, quá trình tu luyện của nữ chính được tóm lại bằng vài dòng, còn yêu hận khúc mắc của nữ chính và (các) nam diễn viên khác
    chiếm đại đa số, nữ chính chết đi sống lại mấy lần, kiếp trước kiếp này là không thể thiếu.

    Huyền nghi: bí ẩn, trinh thám, phá án

    Kiếp trước kiếp này: như tên

    Lịch sử quân sự: nói về chiến lược, chiến tranh trong lịch sử (lịch sử có thật hoặc mất quyền lực)

    Linh hồn chuyển hoán: linh hồn nhập vào một thân xác khác

    Luyến đồng: tình ái giữa người lớn và trẻ con

    Mất quyền lực: thế giới/ thời đại ảo tưởng

    Mỹ thực: truyện có nói nhiều về đồ ăn và cách chế biến

    Ngôn tình: phạm vi rất rộng, khó mà diễn tả… Chủ yếu là nói về tình yêu đi =.=”

    Ngược văn: SM quan hệ, gồm có ngược tâm và ngược thân. Ngược luyến tàn tâm/ngược luyến tình thâm cũng là ngược tâm, trình độ gọi là thê thảm.

    Nhân thú/ thú nhân: ặc, thì là người và thú, hoặc người và người thú đàm luyến ái…

    Np: n ‘person’ (?)/people, 1 nữ n nam hoặc 1 nam n nữ

    Nữ tôn: bối cảnh trong một thế giới phong kiến mà nữ đóng vai trò của nam, nam lại đóng vai trò của nữ (sinh con đẻ cái, châm tuyến nữ hồng linh tinh…)

    Quái lực loạn thần: không rõ ràng lắm, là về thần tiên yêu ma đi

    Quân nhân/ quân lữ: bối cảnh hiện đại, nam/nữ chính vào quân chế

    Sắc hiệp: nhân vật chính là nam, thường trêu chọc nhiều nữ, truyện tả nhiều cảnh xxoo

    Sảng (sướng, thích) văn: truyện đọc thoải mái, không nghẹn khuất, nam nữ chính phát triển thuận lợi, có thể kèm theo ngược tra, đánh mặt

    Sư sinh luyến: thầy trò yêu nhau

    Sủng văn: một nv chính đối với nv chính còn lại âu yếm vô cùng, mắt không có người khác, làm mọi việc mọi chuyện đều vì đối phương, giống như cả thế giới đều xoay quanh
    hắn/nàng, đối với tiểu tam luôn lãnh đạm tuyệt tình

    Tam giáo cửu lưu (三教九流): (chỉ ứng với thể loại truyện, nghĩa gốc mời google) thất loạn bát tao giáo phái môn phái trong giang hồ

    Tây phương kỳ huyễn/ Tây phương ma pháp: cái này cũng có yếu tố tu luyện, nhưng nói nhiều về lối sống của nữ chính trong xã hội phương Tây, tất nhiên là ngoài ma pháp sư thì kỵ sĩ, công hầu bá tử nam tước… không thiếu, tâm lý của các nhân vật phụ về tình dục cũng phóng khoáng

    Thanh mai trúc mã: như tên

    Thanh thủy văn: truyện rất trong sáng và thuần khiết, không có một chút sắc

    Thanh xuân vườn trường: truyện nói về thời học sinh

    Thanh xuyên: xuyên qua trở về đời nhà Thanh (chủ yếu dính tới Khang Hi, Ung Chính hoặc Càn Long)

    Thiên chi kiêu tử: một hoặc nhiều nhân vật chính nắm quyền cao, ngậm thìa vàng…

    Thiên tác chi hòa/ thiên làm nên cùng: trời sinh một đôi

    Thịt văn: truyện tả nhiều cảnh xôi thịt

    Tiên hiệp: thường là tu tiên, thần tiên đầu duyên, đấu pháp thuật…

    Tiền hôn hậu ái: cưới trước yêu sau

    Tiểu Bạch: văn ngây thơ, đơn giản, chủ yếu thỏa mãn sự yy của tác giả

    Tình có chú ý/ tình hữu độc chung: tình yêu duy nhất cả đời

    Tinh tế cơ giáp: viết về thời đại tương lai, khi con người định cư ở nhiều tinh cầu, qua lại trong cùng tinh cầu bằng xe bay (phi xa, huyền phù xa), qua lại giữa hai tinh cầu bằng phi thuyền, đánh nhau bằng cơ giáp và chiến hạm, ngành học được ưa chuộng nhất là cơ giáp chiến đấu và chế tạo cơ giáp

    Trọng sinh: một là chuyển kiếp, biến thành thai nhi/trẻ sơ sinh, vẫn giữ lại ký ức của kiếp trước, hai là tá thi hoàn hồn, ba là trở về một thời điểm nào đó trong quá khứ của bản thân, sửa lỗi lầm (phạm vi thường dùng nhất)

    Trướng nhiên nhược thất/Buồn bã nhược thất: họ hàng gần của ngược tâm, đọc rất thảm, thường gắn liền với SE, OE

    Tu chân/tu tiên: truyện chủ yếu nói về tu luyện, nữ chính được thu vào môn phái nào đó, luyện công pháp nào đó, luyện đan, luyện khí, vẽ trận pháp, đọc khẩu quyết, bay bằng phi
    kiếm, qua các giai đoạn trúc cơ, kết đan, nguyên anh…, độ kiếp rồi thăng thiên; nam chính chỉ là phụ gia, có cũng được mà không cũng chẳng sao.

    Tỷ đệ luyến: cặp đôi mà nữ lớn tuổi hơn nam

    Văn phòng tình cảm: truyện trong văn phòng, tình ái giữa đồng nghiệp hoặc giữa boss và tiểu viên chức

    Võng du: võng = internet, du = surf, phần lớn nói về game online; hư nghĩ võng du >> võng du ở thế kỷ tương lai, khoa học công nghệ phát triển, độ phảng chân cao

    Vui mừng oan gia: cặp đôi hay trêu chọc khiêu khích nhau

    Xuyên không/xuyên việt/xuyên việt thời không: xuyên qua các thế giới khác, thời đại khác

    .

    .

    Ngôn ngữ mạng






    囧: pinyin “jiong”, biểu tượng khuôn mặt đớ ra

    0: linh, nâm (ngài, ngươi)

    026: nâm lai liễu (ngươi tới rồi)

    028: nâm lai ba (ngươi đến đây đi)

    0322: (?? từ gốc? “Ngàn năm yêu thương”)

    0358: nâm tưởng ngô ba (ngươi nhớ thương ta đi)

    04551: nâm thị ngô duy nhất (Ngươi là duy nhất của ta)

    04592: nâm thị ngô tối ái (ngươi là thứ mà ta yêu nhất)

    0564335: nâm vô liêu thì, tưởng tưởng ngô (khi ngươi nhàm chán, nhớ về ta đi)

    0594184: You and me for a lifetime

    0654335: nâm nhược vô sự, tưởng tưởng ngô (ngươi nếu rảnh rỗi liền nhớ về ta đi)

    08056: nâm bất lý ngô liễu (ngươi làm lơ ta sao)

    08358: nâm biệt tưởng ngô ba (ngươi đừng nhớ thương ta)

    08376: nâm biệt sinh khí liễu (ngươi đừng giận)

    086: nâm phát liễu (Ngươi phát tài hả)

    0896: nâm bất tẩu liễu (ngươi không đi hả)

    095: nâm hoa ngô (ngươi tìm ta sao)

    096: nâm tẩu liễu (Ngươi rời đi hả)

    1: nhất, y (giống như), nhĩ (ngươi)

    10086: số điện thoại dịch vụ khách hàng ở TQ

    1299: Leave as soon as you arrive

    12937: Thinking of eating as soon as you got here

    12945: I’m the one who wants love

    130926: Just one thought of you and you arrived

    1314: nhất sinh nhất thế (một đời một kiếp)

    131427: nhất sinh nhất thế ái thê (một đời một kiếp yêu vợ)

    1314520: nhất sinh nhất thế ngô ái nâm (một đời một kiếp ta yêu ngươi)

    1314921: Love you for a lifetime

    1372: nhất sương tình nguyện

    1392010: You are the person I’ll love for a lifetime

    1573: nhất vãng tình thâm

    1698: Let’s go together


    1799: Let’s stroll around

    1920: y cựu ái nâm (yêu ngươi như trước)

    2: nhị, nhi, ái (yêu)

    20863: Love you till the next life

    213: >> nhị (2) B (13) >> đần độn

    234: Follow you with love

    246: Starving to death

    246437: Love is so magical

    250: kẻ ngu ngốc cứng đầu

    25184: Love me for a lifetime

    258: Love me

    25873: Love me till death

    259695: To love me is to know me

    3: tam, sinh, sanh

    3207778: Want to go out with you

    3344: For generations

    338: Let’s think about it a bit

    3399: For a long time

    35925: To think of me is to love me

    360: Miss you

    3726: Thinking of getting up

    38: tam bát (nhiều chuyện, bà tám)

    38726: I can’t think of it

    3Q: san-kyu >> thank you

    4: tứ, thế (đời), thị (nhìn)

    409: Punish you by your leaving

    419: four one nine >> for one night, một đêm tình

    456: thị ngô liễu (là ta)

    476: tử cơ liễu (đứng máy rồi)

    5: ngũ, ngô (ta), vô (không)

    510: I’m already here

    51020: I still love you

    51131420: Love you for a lifetime

    51396: I want to go to sleep now

    51476: My phone is dead too

    516: I have to go

    517: I want to eat

    5179: I want to drink wine

    5196: I must leave now

    52: ngô ái (ta yêu, tình yêu của ta)

    520: ngô ái nâm (ta yêu ngươi)

    5201314: ngô ai nâm nhất sinh nhất thế (ta yêu ngươi một đời một kiếp)

    5203344587: ngô ái nâm sinh sinh thế thế ngô bất khí (ta yêu ngươi đời đời kiếp kiếp không buông tay)

    521: I’m willing

    5240: You are my love

    526: I’m hungry

    530: I’m thinking of you

    5366: I want to chat for awhile

    53719: I still have deep love for you

    5376: I’m upset

    53770: I’m thinking of kissing you

    53880: I’m thinking of hugging you

    54: vô thị (không nhìn, không để ý, mặc kệ)

    546: ngô si liễu (ta ngốc rồi)

    548: vô sự ba (ngươi không sao chứ)

    555: hu hu hu…

    558: Good afternoon

    564335: vô liêu thì, tưởng tưởng ngô (khi nhàm chán, nhớ về ta đi)

    5689: I can’t sneak out

    57: ngô thê (vợ ta)

    57520: My wife, I love you

    5776: I’m going out now

    58: Good night

    5810: I won’t listen to you

    584520: I swear I love you

    586: I’m not coming

    587: I am sorry

    5871: I don’t mind

    52667: Let’s leave slowly

    594230: I’m thinking of you

    596: I’m leaving

    6: lục, liễu

    62: Liễu nhi

    667: Let’s stroll around

    6785753: Meet at the same old place and don’t leave until we meet

    6868: Sneak out! Sneak out!

    7: thất, thê, khí

    70345: Please believe me

    71817: Please don’t get upset

    721: Dear

    7456: khí tử ngô liễu (tức chết ta rồi)

    745839: kỳ thực ngô bất tưởng tẩu (thật ra ta không muốn đi)

    748: khứ tử ba (đi chết đi)

    74839: kỳ thực bất tưởng tẩu (thật ra không muốn đi)

    765: Go dancing

    768: Let’s eat

    770: Kiss you

    770880: Kiss you, hug you

    775: Kiss me

    775885: Kiss me, hug me

    786: Done eating already

    7998: Go for a walk

    8: bát, bác (lột, cởi),bái (lột, cởi), bye, bá (khí phách), bất

    8006: Not paying attention to you anymore

    801314: Your companion forever

    8074: Upset you to death

    809: Bowling

    810: Shameless

    812: Don’t want to come

    8170: Don’t move recklessly

    8172: Don’t act recklessly

    818: bát nhất bát (tám chuyện một chút, moi tin một chút)

    82475: Being loved is happiness

    825: biệt ái ngô (đừng yêu ta)

    837: Don’t be angry

    865: Don’t annoy me

    87: bá khí (khí phách)

    88: bái bai (bye bye)

    885: Hug me

    886: bái bai liễu (bye bye nha)

    898: Let’s split

    9: cửu, cựu (cũ), cửu (dài lâu)

    910: Just want you

    918: Cheer up

    94: tựu thị (đúng vậy, đồng ý)

    940: tựu thị nâm (chính là ngươi)

    9482: Just don’t come

    98: Good morning

    987: đối bất khởi (xin lỗi)

    99013148875: cầu cầu nâm nhất sinh nhất thế biệt phao khí ngô (van xin ngươi một đời một kiếp đừng vứt bỏ ta)

    9958: cứu cứu ngô ba (cứu ta với)

    a phiến: phim AV

    aa (chế): algebraic average (hóa đơn chi trả phân đều cho tất cả người tham gia)

    b: biểu tượng giọt mồ hôi

    bh: bưu hãn

    bjd: ball-jointed doll

    bl: boy love

    Bối bối sơn/ Brokeback mountain (<< lỗi convert tự động): đồng tính luyến ái nam

    bj [thị]: Bắc Kinh


    bt: biến thái (bian-tai)

    bw: bá vương (ăn/xem không trả tiền)

    cj: thuần khiết

    cn: xử nam (or xử nữ)

    dd: đệ đệ

    diy: do it yourself

    đan p: 1 vs 1 pk

    đàn p: 1 vs n pk hoặc n vs n pk

    đạo bản: bản copy lậu, phảng chế phẩm

    e04: can (khi gõ vào máy bằng Taiwanese input method, pinyin gan) – từ chửi bậy

    fh: phúc hắc

    fs: pháp sư

    fz: 1- Fate/Zero (anime), 2- phụ tử (danmei), 3- tỉnh Phúc Châu

    gl: girl love
    \
    gc: cao trào

    gd: câu đáp (rù quyến, câu dẫn)

    gg: ca ca

    gj: 1- good job, 2- cảm kích, 3- công kích, 4- Cổ Kiếm (kỳ đàm), 5- Quách Gia, 6- truyện rất sắc (cao h)

    hc: hoa si, mê gái

    hn: Hồ Nam

    j: kim (đơn vị tiền vàng)

    jf: tích phân

    jj: tỷ tỷ, (khụ) đệ đệ (no idea ——!)

    jc: giao cảnh

    jp: tuyệt phẩm (jue-pin), cực phẩm (nghĩa xấu)

    jq: gian tình (jian-qing)

    js: gian thương

    jybs: giao hữu bất thận (không biết chọn bạn mà chơi)

    jz: tinh tử

    Kao: kháo (chửi tục), thao (chửi tục), tào (chửi tục)

    kfz: khai phát tổ

    lj: rác rưởi, luân gian

    lz: lâu chủ

    m quốc: nước Mỹ

    mã giáp: lốt ngoài, ID giả

    mb: money boy, ngưu lang; nghĩa khác: (chửi bậy)

    mm: muội muội, mỹ mi)

    ms: mã thượng (lập tức

    nb: (có lẽ là) ngưu bức

    nc: nao-can, não tàn (đần độn)

    nnd: (chửi thề) nãi nãi đích

    ntr: netorare, đội nón xanh

    nx: (có lẽ là) ngưu x

    orz: (nhìn ngang) biểu tượng quỳ gối bái lạy

    p: thí, pk

    q bản: cute bản, hoạt họa bản

    qb: khổ bức

    qj: cưỡng gian

    r quốc: Nhật Bản (đôi khi là Nga)

    rf: nhũ phòng (đừng hỏi ta, tự tra đi ~_~)

    rp: nhân phẩm (chỉ vận may)

    sa phát (sô pha): spam topic

    sb: ngốc B

    sd: soper dollfie

    sh [thị]: Thượng Hải

    song C: song xử (nam nữ chính là xử nam xử nữ)

    t: 1- đồng (đơn vị tiền đồng); 2- kick ra

    thần mã: thập ma (cái gì)

    tmd: tha mụ đích (mẹ nó)

    tnnd: tha nãi nãi đích (con bà nó)

    tôm thước/ hà mễ: cái quỷ gì

    trang B: >> trang 13 >> trang 13 tuổi >> giả ngây thơ ~ ngụy quân tử, nữ version; nghĩa khác: trang BIG >> giả vờ vĩ đại tuyệt vời

    tx: đùa giỡn (tiao-xi)

    v5: uy vũ

    w: vạn (10000)

    ws: đáng khinh (wei-suo)

    xb: tiểu Bạch

    xe: tà ác

    xy: tính dục (nhu cầu tình dục)

    xz: bra

    y: ngân (đơn vị tiền bạc)

    yb: nguyên bảo

    yd: dâm đãng

    yy: ý dâm, hoang tưởng, tự sướng (yi yin)

    z quốc: Trung Quốc

    zf: chính phủ

    zgsh: Trung Quốc thạch hóa (hãng dầu mỏ, xăng dầu… của Trung Quốc)


    .



    .

    .

    Khác




    nhân yêu: gay, (võng du) nam ngoạn nữ nv

    yêu nhân: nữ ngoạn nam nv

    nâm: ngài

    khuẩn: quân

    tử (trong thành ngữ), nhữ (trịnh trọng), nhĩ (bình thường), nê (nói trại đi), quân (đối nam), khanh: ngươi

    nê manh: nhĩ môn (các ngươi)

    ngô (trịnh trọng), ngã (bình thường), ngẫu (tiếng địa phương, thường dùng như đùa cợt), yêm (đùa cợt, nhược thế), oa, ngạch (nói trại đi), liên (= trẫm), cô (= trẫm): ta
    ngẫu tích thần/ ngạch tích thần/ ngạch giọt thần: ngã đích thần (oh my God, thần của ta)

    tích (giọt): đích (sở hữu, giống như ” ‘s ” trong tiếng anh)

    nữu: cô bé, bạn gái (đối với nữ, ám chỉ bạn thân là nữ; đối với nam, ám chỉ gf)

    nãi: là, nghĩa khác: ngươi

    bôi (chén) cụ (cốc chén): bi kịch

    tẩy cụ: hài kịch

    đả (đánh) tương du: mua nước mắm (nghĩa đen), đi ngang qua

    nổi danh đường: hàng dỏm

    sơn trại: hàng nhái, hàng kém chất lượng, hàng giả

    ô long: chuyện gây xấu hổ, dở khóc dở cười

    cẩu huyết: tình tiết kịch tình khoa trương giả tạo

    lôi: văn cà giật lẩy bẩy giống như bị sấm đánh

    hà cua: hài hòa (đánh mosaic)

    tính phúc: ách… độ cường hãn trong sinh hoạt vợ chồng

    phúc hắc: (bụng đen) mặt ngoài vô hại bình phàm nhưng kỳ thực rất mưu mẹo âm hiểm

    buồn (muộn) tao: bề ngoài lãnh tĩnh, trầm mặc mà thực tế giàu có tư tưởng cùng nội hàm. Loại này đám người không dễ dàng biểu đạt cùng lộ ra ngoài các loại hỉ nộ ai nhạc cùng
    biến hóa trong cảm xúc, nhưng là trong một số trường hợp hoặc hoàn cảnh, thường thường sẽ biểu hiện một cách ngoài tưởng tượng. Biểu hiện này có yếu tố show off nhất định, nhưng là ở một trình độ nào đó cũng phản ánh hoạt động nội tâm chân thật của cá nhân.

    khiếm trừu: đáng ăn đòn, đáng đánh đòn, muốn ăn đòn

    hỗn đản: (trứng tạp chủng) đồ khốn

    đản đau: này thôi, đản ý chỉ nam tính đồ vật nơi hạ phúc, đản đau (nghĩa đen + nghĩa bóng) = đau kịch liệt mà không dám nói ra

    liêu âm chân: chiêu đá trúng nửa dưới của đàn ông (và vì sao là ‘âm’ mà không phải ‘dương’ thì ta không biết >.<)

    nhị: ngu ngốc (một cách khác người)

    nhị bách ngũ (250): kẻ ngu ngốc cứng đầu

    pia: đá đi

    tiểu tam: kẻ câu dẫn chồng (hoặc vợ) người ta, từ này thường ám chỉ phụ nữ

    tạp: card, thẻ

    bái thiếp: bài post

    thủ cơ: di động

    lam nha: bluetooth

    hiệt (trang) du: browser game, game trên trang web

    thủ du: mobile game, game trên di động

    thủ bạn: garage kit

    quanh thân (周边, chung quanh): sản phẩm tương quan
    ngưu bì đường/ da trâu đường: kẹo mè xửng, kẻ dai như đỉa

    điềm tâm: sweetheart

    quai quai: darling

    nam/ nữ phiếu: bạn trai/ gái

    lữ hài tử (đứa nhỏ): nữ hài tử (cô gái)

    thục thử (cây cao lương): thúc thúc

    thâm tỉnh (giếng sâu)băng: thần kinh bệnh (bệnh tâm thần)

    tuyên: yêu

    phạt: không

    khai sâm: vui vẻ

    truy tinh: truy đuổi thần tượng

    phấn: fans

    ngưu lang, áp tử/ vịt: khụ, khụ, khụ… nam host, hiện đại kỹ nam…

    áp (vịt) lê: áp lực

    áp lê sơn đại: áp lực như núi

    bạch nhãn: xem thường (ngoại lệ “bạch nhãn lang” – kẻ vong ân phụ nghĩa)

    béo thứ: đồ lót

    thử tiêu: chuột máy tính

    thủy nê: xi măng

    chuyên: gạch

    ngõa: ngói

    thước trùng: sâu gạo, kẻ ăn không ngồi rồi

    hoa quả khô: thực học, học vấn

    dắt lừa thuê: cảm giác

    tiếp (nhận) tra, tiếp thoại tra: tiếp lời, đáp lời

    thổ (phun) tào: châm chọc chê bai (ghê tởm muốn ói ra v.v…)

    an lợi: tiếp thị, quảng cáo, khuyến mãi

    hoa thủy: trốn việc

    báo xã (tòa soạn báo): báo thù xã hội

    cẩu đái: (hài âm) go die, đi chết, tử vong

    tạp bãi: đá quán

    tìm tra: gây hấn

    tấu khải (ca khúc khải hoàn): tẩu khai (xéo đi, xéo ra, cút đi)

    why old are you: vì sao lão là ngươi (vì sao lúc nào là ngươi)

    how teen: hảo tiện (thật không biết xấu hổ, thật hạ cấp)

    thảo nê mã (alpaca??): thao nhĩ mụ (mẹ ngươi)

    ni mã: nhĩ mụ (mẹ ngươi)

    tạo sao: hiểu/biết sao

    thũng sao: làm sao

    thũng sao làm: làm sao bây giờ

    tôm thước/ hà mễ: cái quỷ gì

    trang B: >> trang 13 >> trang 13 tuổi >> giả ngây thơ ~ ngụy quân tử, nữ version; nghĩa khác: trang BIG >> giả vờ vĩ đại tuyệt vời

    hợp lại bàn: ghép bàn, ngồi chung bàn

    thảo môi: kissmark, dâu tây

    vu sư: phù thủy, bà đồng

    phong tín tử: dã lan hương

    khang nãi hinh: cẩm chướng

    huân y thảo: oải hương

    vật vong ngã: forget-me-not

    tam sắc cận: hoa păng-xê

    bỉ ngạn hoa: mạn đà la (ngoại lệ “bỉ ngạn hoa khai” – hoa nở bên bờ đối diện)

    mạn châu sa hoa: mạn đà la đỏ

    mân côi: hoa hồng

    hãm bính: bánh bao, vận may bất ngờ

    nhược quán chi linh: 20 tuổi

    nhi lập chi niên: ~30 tuổi

    bất hoặc chi niên: ~40 tuổi

    kì di chi niên: ~100 tuổi


    .



    .
    Lỗi convert tự động




    gỗ vuông: phương thuốc

    giáo trình khí: giảng nghĩa khí

    nê-phrít: nhuyễn ngọc

    chỉ có công tử: phiên phiên công tử

    phong độ chỉ có: phong độ phiên phiên

    xem thường sói: bạch nhãn lang

    đánh bị điện giật nói: đánh điện thoại (gọi điện thoại)

    đừng (họ): Mạc

    đừng, khác (văn thơ): biệt

    cũng (tên): Diệc

    cùng (tên): Hòa, Đồng

    cùng (trong thành ngữ): dữ, dã

    lúa (tên): Hòa

    ngươi (tên – Mông Cổ): nhĩ

    đem (tên, họ): tương

    đứng (tên): lập

    trong suốt (tên): thanh thanh, tinh oánh

    hương thơm (tên): phỉ, phỉ phỉ

    bay lên (tên): phi dương

    thẳng tới trời cao (tên): lăng vân

    bay trên trời (tên): phi thiên

    ngay cả (tên): liên

    ngút trời (tên): thiên túng

    mũi nhọn (tên): mang

    vui mừng (tên): duyệt

    mẹ (họ): bắc đường

    thẻ (tên): sách

    sao bắc cực (họ): bắc thần

    tiểu nhện cao chân (tên): tiểu hỉ tử

    bay liệng (tên): tường

    đủ (tên, họ): tề

    mặt giãn ra (tên): triển nhan

    ca Gothic khác: ca ca đặc biệt

    xông vào trận doanh (chi quân dưới tay Cao Thuận): Hãm trận doanh

    (liệt kê danh từ đằng trước) chờ: đẳng (= nhóm, bọn, đám = vân vân)

    lả lướt: Y Y (tên), linh lung (văn)

    một đôi vách tường nhân: một đôi bích nhân

    gió êm dịu: hòa phong

    làm vinh dự: quang đại

    taxi: đích sĩ

    nhất nhất: – –

    nhất/ khẩu: dấu thoại, dấu câu

    bình minh: thiên minh

    hoàn trả: thanh hoàn

    xếp hợp lý: đối tề

    ngày mai (tên người): minh nhi

    vật tắc mạch: xuyên tử


    .



    .



    Những từ thường lẫn lộn (trọng âm, typo) hoặc dùng tương đương



    phong/phượng/phàm

    ninh/trữ

    diệp/hiệp

    hứa/từ

    tắc/trạch

    hàm/hàn

    trầm/thẩm

    ngọc/vương

    quát/quế/khắc/kiếm

    tả/tỷ/thư

    cổ/giả

    ly/cách

    giải/lân

    cơ/ky

    niếp/nhiếp


    .



    .

    Lỗi do từ cấm



    (ái) mei: (ái) muội

    biao: biểu (biểu tử = người đàn bà yd)

    chao: triều

    chu: xử

    chuang: sàng (giường)

    fang: phòng

    gen: căn

    ji: cơ/kỹ

    ji (nữ): kỹ (nữ)

    jian: gian/ tiện

    ju (hoa): cúc (hoa)

    ku, kua: khố

    luo: lõa

    mei: mỹ/ muội

    (phong) liu: (phong) lưu

    qing: tình, tính

    qing ren: tình nhân

    ren: nhân

    rou: nhục (thịt)

    ru tou: nhũ đầu

    se: sắc

    shen: thân

    shunsui: xuân thủy

    (triền) mian: (triền) miên

    wang: vọng

    xing fu: tính phúc/ hạnh phúc

    ye: dạ (đêm)

    yin: dâm/ dẫn

    yu: dục




    Link xem thêm: https://luhehe712.wordpress.com/2011...1%BA%BFng-hoa/
    Sửa lần cuối bởi An Cella; 05-03-16 lúc 02:23 AM.
    An Cella Tài sản


  12. The Following 5 Users Say Thank You to An Cella For This Useful Post:


  13. #7
    Ngày tham gia
    Oct 2015
    Vị trí hiện tại
    Hà Nội
    Bài viết
    887
    Ngân lượng
    115,172
    Thanked: 40255
    @Hoàng Kỳ: Cảm ơn bạn, rất có ích ^^
    nếu có thêm cả từ giải nghĩa viết gốc tiếng Trung thì thật tốt ^^
    Girls' Generation - 소녀시대 - The power of 9



    gru2110 Tài sản


  14. The Following User Says Thank You to gru2110 For This Useful Post:


  15. #8
    Ngày tham gia
    Nov 2014
    Bài viết
    516
    Ngân lượng
    43,186
    Thanked: 14654
    @Hoàng Kỳ: Mình có để ý thời gian qua bạn rất tích cực chia sẽ bài viết có ích,
    nên mình xin tặng bạn 1000 Bách Gia lượng xem như chút lòng thành của Sâu
    Dee S Tài sản


  16. #9
    Ngày tham gia
    Feb 2016
    Vị trí hiện tại
    Vũng Tàu City Beach
    Bài viết
    692
    Ngân lượng
    52,854
    Thanked: 4386
    Trích dẫn Gửi bởi gru2110 Xem bài viết
    @Hoàng Kỳ: Cảm ơn bạn, rất có ích ^^
    nếu có thêm cả từ giải nghĩa viết gốc tiếng Trung thì thật tốt ^^
    uhm mình cũng đang tìm xem mấy trang khác nữa, nói chung thì đều là giúp ích rất nhiều cho các editor tụi mình mà ^^
    An Cella Tài sản


  17. The Following User Says Thank You to An Cella For This Useful Post:


  18. #10
    Ngày tham gia
    Feb 2016
    Vị trí hiện tại
    Vũng Tàu City Beach
    Bài viết
    692
    Ngân lượng
    52,854
    Thanked: 4386
    Trích dẫn Gửi bởi Dee S Xem bài viết
    @Hoàng Kỳ: Mình có để ý thời gian qua bạn rất tích cực chia sẽ bài viết có ích,
    nên mình xin tặng bạn 1000 Bách Gia lượng xem như chút lòng thành của Sâu
    @@ wow............ cám ơn bạn Sâu nhiều nhiều nhiều a *ôm hun*......
    An Cella Tài sản


  19. The Following User Says Thank You to An Cella For This Useful Post:


Quyền viết bài

  • Bạn không thể đăng chủ đề mới
  • Bạn không thể gửi trả lời
  • Bạn không thể gửi đính kèm
  • Bạn không thể sửa bài
  •