Kết quả 1 đến 4 của 4
  1. #1
    Ngày tham gia
    Nov 2014
    Vị trí hiện tại
    Lên núi đàm đạo với tiên sinh
    Bài viết
    1,448
    Ngân lượng
    133,595
    Thanked: 18393

    Tổng Hợp Nghĩa Các Từ Trong QT

    Vũ tạo topic này để đăng ngữ nghĩa của các từ trong bản QT do bạn @fallenangelp tổng hợp nhằm giúp các bạn editor/reader có thể đọc hiểu QT hơn. Mọi người có thể ủng hộ/góp ý để hoàn thiện hơn nhé

    Mời Đọc (Click Here) :
    *lưu ý, có nhiều từ có thể giữ nguyên nghĩa, hoặc đứng 1 mình nó mới có nghĩa bóng, còn không nó sẽ là nghĩa gốc (nghĩa tiếng việt) hoặc nghĩa khác.

    Từ điển QT tự soạn

    Thủ đoạn: cổ tay/ cước: chân

    Thôi: đẩy

    Kê đản: trứng gà

    Năng, Khả dĩ: sẽ,có thể ví dụ: năng có chuyện gì – có thể, sẽ có chuyện gì

    Biệt: không,đừng có/ bất: không

    Hóa hiểm vi di: hóa nguy thành an

    Kiểm: mặt / đa: nhiều

    Bối: lưng /kiên: vai

    Kiều đồn: mông

    Bính: chạm, động vào

    Thái: quá là , đồ ăn, món ăn bd: thái bất hiếu – quá bất hiếu/ làm thái: làm cơm

    Tiên: trước/ bào: trốn, chạy đi

    Đối: đúng

    Là: vâng/ manh: đáng yêu

    Thượng: trên, xa: xe

    Xà tinh bệnh: bệnh thần kinh (chắc vậy)

    Kinh lịch: trải qua

    Thiếp đến: dính tới, dán lại

    Hòa, đồng: cùng với

    Khán: xem/ biên: bên cạnh

    Chủy, thần: miệng vd: mân chủy: mím môi

    Thân: hôn/ mại: mua

    Khai: mở/ tiễn: tiền

    Đạo: nói vd: nàng đạo: nàng nói

    Cao điểm: điểm tâm

    Trảo: nắm, bắt

    Khẩu: lời nói, câu nói

    Quá khứ: đến/ chạy tới (có thể từ quá khứ này cũng là quá khứ [past] nói chung tùy)

    Thất tung: biến mất không thấy/ tiêu thất: biến mất

    Vãng: đến vd: vãng bên kia: đến bên kia

    Loan: cong/ toan sáp: chua xót/ não: buồn, phiền muộn/ khổ sáp: đau xót

    Tha: nó/ hội: sẽ

    khinh túc: nhíu lại vd: đôi mi khinh túc: chân mày nhíu lại

    nghĩa vô phản cố: cố chấp đến vô nghĩa (chắc vậy)

    tự tiếu phi tiếu: như cười mà không cười/ nhượng: để cho

    thư thích: thoải mái/ tán: dù

    vụ khí: sương mù/ đông tây: vật này nọ

    kinh hách: kinh sợ/ giảo: cắn

    thấp thủy: dính nước (thấp cũng có nghĩa là ướt)

    chàng: đụng vào, đụng phải

    noãn: ấm/ du: xăng

    sàng đan: giường/ hoan lạc: vui vẻ

    dạ: ban đêm/ dương: ngứa

    bạc hãn: tầng mồ hôi mỏng/ lạp: kéo

    lưu hải: tóc (bên TQ hay gọi nữ nhân là có lưu hải 3 nghìn, suối tóc đen 3 nghìn gì gì đó)

    nguyệt: tháng/ đình: dừng/ nhất: ngày

    mạc danh kỳ diệu: không hiểu ra sao cả, không sao nói rõ được, quái

    bang: giúp/ tạng: hôi, thối, bẩn

    xú: xấu/ tao bao: xấu xa

    nộn: thường chỉ da thịt như trẻ con mềm mại, nghĩa khác là chỉ còn non (ý là chửi người khác còn quá non)

    chân chó: xu nịnh, nịnh bợ

    đăng: đèn/ nã: lấy

    vô tâm vô phế: không tim không phổi (ý chỉ người vô tâm)

    tát vào mồm: miệng mở lớn

    súy đuôi: ngoắc đuôi, vẫy đuôi

    thùy hạ: buông xuống, rủ xuống

    bị tử: gối ôm/ nhuyễn: mềm

    cận: gần/ ly: cách vd: ly cận: cách rất gần

    hư tình giả ý: bên ngoài nhiệt tình giả tạo đối xử người, nhưng tâm thì không có nghĩ vậy

    đại hôi lang: sói lớn/ lạp: kéo hạ

    lang thôn hổ yết: ăn như hùm như sói

    hôi phi yên diệt: tan thành tro bụi

    nội ngưu: lệ rơi hắc tuyến: vạch đen

    môn: các vd: nàng môn: các nàng



    sau đây là những cụm từ, thành ngữ, thơ thấy ở fb

    01] MM (Mei Mei) = Muội Muội.

    [02] Nhân yêu [人妖] = Đồng tính nam (gay). Hay cũng có thể là con gái mà chơi nhân vật nam (trong Game Online).

    [03] Lam hồ tử thúc thúc [蓝胡子叔叔] ~ Chú râu xanh : Có lẽ là một kiểu yêu râu xanh ? Có điều, báo chí Việt Nam lại xem nó đồng nghĩa với “quỷ (già) dâm”.

    [04] Điệp phóng thác [碟放错] ~ Phóng nhầm đĩa : Theo TN thì tạm hiểu là “lạc đề”.



    [05] Quan ngoại [关外] : “Vùng đất phía đông Sơn Hải Quan hoặc vùng đất phía tây Gia Cốc Quan, Trung Quốc.” – Theo QuickTranslator.



    [06] Sắc phong [册封] : “Vua thông qua những nghi thức nhất định để ban tặng tước vị, phong hiệu cho quan, người thân, ngoại tộc.” – Theo QuickTranslator.



    [07] Ban chỉ [斑指] : “Vốn là nhẫn ngọc đeo trên ngón cái lúc bắn tên, sau trở thành đồ trang sức.” – Theo Wiktionary. Hình minh hoạ (click vào hình để phóng to) :



    [08] Thái phó [太傅] : Là chức quan giúp đỡ vua nhỏ hoặc khi chưa ai lên làm vua thì có thể thay thế quản lý quốc gia (theo Baidu), chức quan thuộc hàng tam công, dưới thái sư và trên thái bảo (theo LacViet).



    [09] Quân cơ [军机] : Bí mật quân sự.



    [10] Thiên tư [天姿] : Chắc là “tư chất trời cho” ?



    [11] Nhãn lực [眼力] : “Thị lực; năng lực phân biệt.” – Theo QuickTranslator.



    [12] Linh đường [灵堂] : “Hội trường để linh cữu (nơi để người ta đến viếng).” – Theo Lạc Việt.



    [13] Độn giáp [遁甲] ~ Cũng được biết đến như “Kỳ môn độn giáp” [奇门遁甲] : Là môn khoa học cho ta biết được thời điểm nào, phương vị nào sẽ có lợi cho ta và phương vị nào sẽ bất lợi cho ta, rồi ta có thể dựa vào đó cải thiện vận mệnh của ta cho từng thời điểm. Kỳ Môn Độn Giáp được ứng dụng trong việc lựa chọn thời gian, hướng bày binh, xuất quân, cầu tài, cầu danh, yết kiến quí nhân, xuất hành, khai trương, động thổ, xây cất, tìm người cưới gả … (Theo Wikipedia, click vào link để xem chi tiết)



    [14] PK – Pk – P.K. : Là viết tắt của khá nhiều từ.

    Trò Chơi Trực Tuyến – Game Online (Võng Du [网游]) :

    Probability of Kill : Xác suất tiêu diệt.

    Player Killer : Người giết người chơi khác.

    Player Killing : Trận đấu giữa người chơi với người chơi (thường là kiểu một mất một còn).

    Perform Kill : Ý chỉ sự công kích đặc biệt.

    Phantom King : Một trùm (boss) trong trò chơi (không phải trực tuyến) Okage: Shadow King.

    Địa Lý :

    Pakistan : Mã quốc gia ISO là PK.

    Park : Viết tắt trên bản đồ là PK.

    Possum Kingdom Lake, Texas.

    Pyramidal peak : Viết tắt trên bản đồ là PK.

    Peekskill, New York : Thị trấn ở New York, Hoa Kỳ.

    Parkdale, Toronto, Ontario, Canada.

    Quân Sự :

    Probability of Kill : Xác suất tiêu diệt.

    (Theo Wikipedia.org, QuansuVN.net, Baidu. Tạm thời là vậy, khi nào cảm thấy cần thiết sẽ tiếp tục dịch/edit thêm phần chú giải về từ viết tắt này.)



    [15] Thạch tín [砒霜] ~ Nhân ngôn ~ Tỳ sương ~ Asen : Asen nguyên tố và các hợp chất của asen được phân loại là “độc” và “nguy hiểm cho môi trường” tại Liên minh châu Âu theo chỉ dẫn 67/548/EEC. (Theo Wikipedia.org)



    [16] Khắc [刻] : Một khắc bằng mười lăm phút. (Theo QuickTranslator)



    [17] Tả tướng [左相] : Viết tắt của tả thừa tướng [左丞相] (đứng đầu quan văn). (TheoWikipedia.org)



    [18] Tả tướng quân [左将军] : Đứng sau thượng khanh, chức vụ hoặc quản lý vệ binh kinh thành, hoặc đóng quân nơi biên giới. (Theo Baidu)



    [19] Thượng khanh [上卿] : Tương đương với địa vị tể tướng, mà còn được hoàng đế ưu ái. Chức vị cao cấp của cổ đại. (Theo Baidu)



    [20] Tẩu tử [嫂子] ~ Tẩu [嫂] : Chị dâu. Riêng với “tẩu” [嫂] cũng có thể là “thím ; mợ”. (Theo QuickTranslator)



    [21] Chân chó [狗腿] : Nghe mấy bạn đồn là ngôn ngữ mạng của Trung Quốc, nghĩa tương tự với “nịnh hót; nịnh bợ”. TYV nghĩ có lẽ là do con chó thì hay theo đuôi ai đó, và bộ phận mà con chó dùng để theo đuôi ai đó chính là chân của nó, cho nên người ta mới dùng từ “chân chó” để ám chỉ “nịnh hót; nịnh bợ” như thế.



    [22] Hán gian [汉奸] : Hán gian, ý chỉ kẻ nương nhờ quân xâm lược, thông đồng với địch bán nước, hoặc người dẫn dụ dân tộc khác xâm lượng người Trung Quốc (vốn chỉ kẻ phản bội của dân tộc Hán, sau lại nói về toàn bộ dân tộc Trung Hoa). (Theo Baidu)



    [23] Tràng vị [肠胃] : “Tràng” là “ruột”, “vị” là “dạ dày”. (Theo QuickTranslator)



    [24] Váy hồng [石榴裙] ~ Vốn từ Hán việt là “thạch lựu quần” :

    Theo chú thích của bản Hí tặng Triệu sứ quân mỹ nhân [戲贈趙使君美人] trên ThiVien.netthì “thạch lựu quần” là “quần màu hoa lựu“. Ở bài thơ Như ý nương [如意娘] thì “thạch lựu quần” đượcPhạm Thị Hảo dịch thẳng ra là “quần hồng”. Còn trong bản dịch Hồng Lâu Mộng của Vũ Bội Hoàng, Nguyễn Doãn Địch, Nguyễn Thọ thì “thạch lựu quần” trong “hàm tương vân túy miên thược dược nhân ngốc hương lăng tình giải thạch lưu quần” [憨湘云醉眠芍药茵 呆香菱情解石榴裙] được dịch ra là “tấm quần hồng lăng”.

    Nhưng từ “quần” [裙] theo QuickTranslator thì chính là “váy” hoặc “vật giống cái váy” nên mình quyết định tạm edit ra là “váy hồng” để cho nó… dễ hình dung. Trong những dòng dưới đây, từ “thạch lựu hồng” sẽ được thay thế bằng từ “váy hồng”.

    Lại nói về váy hồng thì vào thời Đường, váy hồng là loại trang phục mà những người con gái còn trẻ rất ưa thích. Váy này mang màu hồng của thạch lựu, không nhiễm màu khách, thường khiến người con gái mặc nó xinh đẹp động lòng người. (theo Baidu)



    [25] Lệnh thiên kim [令千金] : Tạm hiểu là “tiểu thư nhà ta” (lời nói kính trọng, dùng với những người thân trong gia đình). (Theo QuickTranslator) Nhưng thiết nghĩ đó đôi khi cũng có thể là cách nói châm biếm.



    [26] Tôn phu [尊夫] : tạm hiểu là “người chồng tôn quý”. (Theo QuickTranslator) Có vẻ như đây là một cách nói trang trọng nhưng ở trong một số trường hợp, nó cũng có thể là cách nói châm biếm.



    [27] Hộ khách [客户] :

    Giải thích theo thương nghiệp hiện đại :

    “Hộ khách” là chỉ thông qua mua sản phẩm hoặc phục vụ của bạn để thỏa mãn nhu cầu của một quần thể, cũng là chỉ cá nhân hoặc xí nghiệp có quan hệ kinh tế trực tiếp với cá nhân hoặc xí nghiệp.

    Giải thích cơ bản :

    […]

    3. Nhà xưởng, xí nghiệp hoặc người người môi giới gọi là khách hàng vãng lai; thương gia, người buôn bán.

    Giải thích rõ ràng :

    […]

    Ở hiện đại có xu hướng để người khác phục vụ, cũng chính là người mua người khác phục vụ mình, hoặc người đầu tư !

    (Theo MBAlib)



    [28] Quỷ Đả Tường [鬼打墙] :

    Cái gọi là Quỷ Đả Tường, chính là lúc ban đêm hoặc ở vùng ngoại ô, bị khoanh trong một vòng tròn không thoát ra được. Hiện tượng này trước hết là có thật. Đã có nhiều người gặp phải.

    […]

    Tóm lại, bản chất chuyển động của sinh vật là chuyển động tròn. Nếu như không có mục tiêu, chuyển động bản năng của bất kì sinh vật nào cũng đều là chu vi hình tròn. (TYV : Xem thêm chi tiết ở đây)

    […]

    Nói đến Quỷ Đả Tường, nghĩa là bạn đang mất đi cảm giác phương hướng, nói cách khác, bạn đã lạc đường.

    […]

    (Theo Baidu)



    [29] Lăng Đầu Thanh [愣头青] :

    Lăng Đầu Thanh, là một từ chúng ta thường dùng trong đời sống, nói về người nào đó làm việc không có đầu óc, hoặc không động não, chưa bao giờ phân tích, phán đoán tình hình nội dung, tính chất, đúng sai, phải trái vân vân của sự việc đã hành động mù quáng, hậu quả, bởi vì phương pháp hành động mẫu thuẫn với tình hình phát triển của sự việc, cuối cùng vấn đề nhỏ không đáng để mắt tới thành ra vấn đề lớn hậu quả nghiêm trọng, chuyện tốt biến thành chuyện xấu.

    [ Nghe đồn là do ] : Tên đầy đủ của Lăng Đầu Thanh là Bách Hưởng Thiên Túc Trùng, cũng là Thổ Long, là quái vật khó thấy được trong truyền thuyết địa phương, tả nó giống như con rết có nhiều chân, màu xanh biếc, lại to lớn vô cùng, cái đầu to cỡ nắm tay của người trưởng thành. Hễ thấy cái gì là tấn công liền, cho nên người ta gọi nó là Lăng Đầu Thanh, ở nông thôn đồn Lăng Đầu Thanh lớn rất chậm, từ thời thơ ấu đến thời kỳ trưởng thành cần tận mấy trăm năm.

    […]

    Có điều nó là vì màu sắc cơ thể cùng với cái tên Lăng Đầu Thanh do tập tính thấy người là cắn lại được sử dụng rộng rãi để chỉ người tính tình nóng nảy, không phân biệt phải trái.

    (Theo Baidu)



    [30] Phúc tướng [福相] : Tướng mạo rất có phúc. (Theo QuickTranslator)



    [31] Quốc trượng [国丈] : Là cha vợ của vua theo cách gọi thông thường. Thường được dùng trong hí khúc (các loại hí kịch truyền thống của Trung Quốc và các loại kịch hát địa phương, kết hợp múa hát để diễn một cốt truyện) và tiểu thuyết. 《 Tam hiệp ngũ nghĩa 》 hồi bốn : “Hoàng đế Nhân Tông lên ngôi, phong Lưu Hậu làm thái hậu, lập Bàng Thị làm hoàng hậu… Bàng Cát làm quốc trượng kiêm thái sư.” Kinh kịch 《 Nhị tiến cung 》: “Ngài thái sư phụ thân của (hoàng hậu) nương nương, ngài ấy vốn là hoàng thân quốc trượng.” Tập tư liệu lịch sử Trung Quốc cận đại 《 Thái bình thiên quốc • Thái bình lễ chế 》: “Người trong thiên hạ đều nhất trí gọi nhạc phụ (cha vợ) trẫm là quốc trượng.”(Theo Baidu)



    [32] Châu quang bảo khí [珠光宝气] : “Châu” [珠], “Bảo” [宝] : Chỉ đồ trang sức ; “Quang” [光], “Khí” [气] : Chỉ màu sắc rực rỡ lấp lánh. Miêu tả quần áo và trang sức phụ nữ sang đẹp và lộng lẫy, lấp lánh ánh châu báu.



    [33] Quý nhân [贵人] : Nữ quan trong hoàng cung thời xưa. (Theo QuickTranslator)



    [34] Lang yên [狼烟] : Khói báo động (đốt phân của con sói làm khói ám hiệu báo động). (Theo QuickTranslator)



    [35] Chấp niệm [执念] : Là một loại ham muốn vô cùng mãnh liệt, “chấp” [执], đơn giản là cố chấp, ý nghĩa của từ “chấp niệm” [执念] : Một người nào đó cố chấp đến mức khó mà có thể thay đổi đươc ý nghĩ (hoặc cách nghĩ). (Theo Hudong.com)







    THÀNH NGỮ

    [01] Bách thí bách linh [百试百灵] ~ Trăm thử trăm thiêng : Theo TYV đoán thì là gần giống với “trăm trận trăm thắng”.



    [02] Danh bất hư truyền [名不虚传] : “Tiếng tăm, danh tiếng truyền đi đúng như thực tế.” – Theo QuickTranslator.



    [03] Thần hồ kỳ kỹ [神乎其技] :

    – Thần : Thần kỳ khó lường ; Kỹ : Kỹ nghệ. Miêu tả kỹ nghệ hay thủ pháp [phương pháp, thủ đoạn] hết sức cao minh.

    – Là thành ngữ cổ đại.

    – Xuất xứ : Thanh • Ngô Nghiễn Nhân 《 Nhị Thập Niên Mục Đổ Chi Quái Hiện Trạng 》 hồi thứ 31 : “Hắn chỉ có cách lừa vàng bạc này, mọi người lại vui vẻ bằng lòng bị hắn lừa, đây mới là thần hồ kỳ kỹ !”

    (Theo Tra tuân công cụ đại toàn)



    [04] Thuận lý thành chương [顺理成章] : TYV nghĩ là “Thuận theo lý thuyết (lời nói mang tính [gần như] đương nhiên) mà suông sẻ (như thế nào đó)”.



    [05] Mạn bất kinh tâm [漫不经心] : “Mạn”[漫] : Tuỳ tiện, không chịu ràng buộc. “Kinh tâm” [经心] : Lưu ý, lưu tâm. “Bất” [不] là “không” (cùng chức năng phủ định với từ “not” của tiếng Anh). Cả thành ngữ ý chỉ lời nói, việc làm tuỳ tuỳ tiện tiện, không để ở trong lòng. (Theo Tra tuân công cụ đại toàn) Cũng là, “Thờ ơ; không để ý; không đếm xỉa tới” (theo QuickTranslator).



    [06] Điện quang thạch hoả [电光石火] ~ Cũng hay được viết sai thành “Điện quang hoả thạch” [电光火石] : Là chỉ, ánh sáng của tia chớp, lửa của đá lấy lửa. Vốn là từ của Phật gia, chỉ sự vật đến rồi đi trong chớp mắt. Hiện nay được dùng để miêu tả sự vật biến mất trong nháy mắt giống như tia chớp cùng lửa của đá lấy lửa. Cũng được dùng để chỉ hành động nhanh chóng, ra tay trước hạn định.(Theo Baidu)



    [07] Hiệp cốt nhân tâm [侠骨仁心] : “Hiệp” của “hiệp nghĩa”, “cốt” của “xương cốt”, “nhân” là “nhân ái”, “tâm” là “trái tim”. TYV nghĩ có thể tạm hiểu nó là, “Hiệp nghĩa (khắc) trong xương cốt, nhân ái (khắc) sâu trong tim”.



    [08] Thâm cư giản xuất [深居简出] : “Thâm” [深] là “thâm sâu”, “cư” [居] là “cư ngụ”, “giản” [简] là “giản đơn” (ở đây còn có thể hiểu là “hạn chế”), “xuất” [出] là “ra ngoài”. Có thể tạm hiểu cả thành ngữ là, “Ở nơi thâm sâu (thường là nơi không mấy người biết), hạn chế ra ngoài”.



    [09] Tất cung tất kính [毕恭毕敬] : Miêu tả dáng vẻ vô cùng cung kính. (Theo Tra tuân công cụ đại toàn)



    [10] Vô thanh vô tức [无声无息] : Không có âm thanh, không có hơi thở. Cũng có khi chỉ một người không có tiếng tăm, không được người khác biết. (Theo Tra tuân công cụ đại toàn)



    [11] Trường mệnh bách tuế [长命百岁] : Mệnh [命] : Tuổi thọ. Sống thật lâu, sống đến trăm tuổi.(Theo Tra tuân công cụ đại toàn) Gần giống với câu “sống lâu trăm tuổi” bên Việt Nam mình.



    [12] Thủ hạ lưu tình [手下留情] : Tình [情] : Tình cảm. Lúc ra tay chừa chút tình cảm. Ý nói xử lý (giải quyết) chuyện nào đó không nên quá hà khắc. (Theo Tra tuân công cụ đại toàn)



    [13] Thống khốc lưu thế [痛哭流涕] : Thế [涕] : Nước mắt. Miêu tả dáng phi thường đau lòng mà khóc rống. (Theo Tra tuân công cụ đại toàn) Nói rõ hơn thì là, “chảy nước mắt khóc thống thiết”.



    [14] Đức cao vọng trọng [德高望重] : “Đạo đức uy tín rất cao; có đức độ và danh vọng cao.” – Theo Lạc Việt.



    [15] Hỉ khí dương dương [喜气洋洋] : “Hỉ khí” [喜气] : Không khí vui mừng. “Dương dương” [洋洋] : dào dạt. Cả thành ngữ có thể tạm hiểu là, “không khí vui mừng dào dạt”. Cũng có khi dùng để miêu tả dáng vẻ phi thường đắc ý hoặc dị thường sung sướng. (Theo Tra tuân công cụ đại toàn)



    [16] Thoại lý hữu thoại [话里有话] : Tạm hiểu, “Trong lời thoại có lời thoại khác”, “câu nói có hàm ý khác” (theo QuickTranslator).



    [17] Cơ duyên xảo hợp [机缘巧合] : “Cơ duyên” [机缘] là “cơ hội và duyên phận”, “xảo hợp” [巧合] là “vừa khớp; thật khéo; trùng hợp” theo như QuickTranslator.



    [18] Hi thế chi bảo [稀世之宝] : “Hi thế” [稀世] : Thế gian hiếm có. Cả thành ngữ ý chỉ trân bảo (báu vật, châu báu,v.v…) hiếm có trên đời. (Theo Tra tuân công cụ đại toàn)



    [19] Linh đan diệu dược [灵丹妙药] : “Đan” [丹] : Thuốc Đông Y dạng viên ; “Linh đan” [灵丹] : Linh nghiệm ; “Diệu” [妙] : Chỉ tác dụng đặc biệt. Vị thuốc thần kỳ phi thường hiệu nghiệm có thể trị nhiều bệnh. Cũng có thể là chỉ một biện pháp hay giải quyết được tất cả các vấn đề. (Theo Tra tuân công cụ đại toàn)



    [20] Thiên la địa võng [灵丹妙药] : “La” [罗] : Lưới bắt chim. Chỉ vòng vây thiết lập trên dưới bốn phương. (Theo Tra tuân công cụ đại toàn) Cũng có thể hiểu, “lưới trời lồng lộng; bủa vây kín khắp nơi, kẻ ác hết bề trốn thoát” (Theo QuickTranslator).



    [21] Thúc thủ vô sách [束手无策] : “Thúc thủ” [束手] : Bó tay. “Vô sách” [无策] : Không có cách nào. Cả thành ngữ có thể hiểu là “Bó tay không có cách nào”.



    [22] Phấn sức thái bình [粉饰太平] : “Phấn sức” [粉饰] : Trát phấn trang điểm ; “Thái bình” [太平] : Xã hội bình an, thịnh vượng. Cả thành ngữ ý chỉ hành động chỉ tô (sơn lên) bề ngoài, giấu đi tình hình thực tế, đem cục diện mục nát hỗn loạn, trang điểm thành cảnh tượng thái bình thịnh thế. (Theo Tra tuân công cụ đại toàn) Cũng có thể hiểu rộng và đơn giản hơn là : “Ra vẻ không có việc gì cả.”.



    [23] Danh phù kỳ thực [名副其实] ~ Danh phó kỳ thực : “Phù” (“Phó”) [副] : Tương xứng, phù hợp. Danh tiếng hoặc danh nghĩa xứng với thực tế. (Theo Tra tuân công cụ đại toàn)



    [24] Quan miện đường hoàng [冠冕堂皇] : “Quan miện” [冠冕] : Mũ dùng chung với lễ phục của vua chúa cổ đại ; “Đường hoàng” [堂皇] : Phong thái phi phàm. Miêu tả vẻ ngoài trông trang nghiêm hay quang minh chính đại. Thường dùng để châm chọc. (Theo Tra tuân công cụ đại toàn)



    [25] Thế ngoại đào nguyên [世外桃源] : Ý chỉ nơi tốt đẹp, ngăn cách với thế giới bên ngoài. (TheoTra tuân công cụ đại toàn)



    [26] Tuần quy đạo củ [循规蹈矩] : “Tuần” [循] : Tuân thủ ; “Đạo” [蹈] : Lần theo dấu vết. Chỉ quy tắc bảo thủ gò bó, không dám làm khác chút đi. (Theo Tra tuân công cụ đại toàn)



    [27] Phong thanh hạc lệ [风声鹤唳] : Tiếng rên rỉ của gió cùng tiếng kêu của hạc. Một cảm giác thấy thoáng qua về sự nguy hiểm trong những tiếng nhỏ nhất. Miêu tả hoảng hốt lo sợ, hay tự mình sợ hãi lo buồn. (Theo Tra tuân công cụ đại toàn)



    [28] Hoa ngôn xảo ngữ [花言巧语] : “Hoa” [花] : (Làm cho) hoa mắt, lừa đảo ; “Ngôn” [言] : Lời ; “Xảo” [巧] : Khéo léo, giả dối ; “Ngữ” [语] : Tiếng. Tạm hiểu : “Lời lừa tiếng dối”, theo QuickTranslator thì còn là “lời ngon tiếng ngọt; lời đường mật; nói ngọt như mía lùi; lời ngon ngọt; nói ngon nói ngọt”.



    [29] Thọ Tinh Công ăn thạch tín [寿星公吃砒霜] : Thọ Tinh Công (Ông Thọ) có thể xem là biểu tượng của sự sống thọ, sống lâu. Thạch tín (Asen) là một chất kịch độc. Vậy nên, hình ảnh Thọ Tinh Công ăn thạch tín có thể xem như là hình ảnh của một người không còn muốn sống nữa (tự tìm đến cái chết).



    [30] Tinh bì lực tẫn [精疲力尽] : “Tinh” [精] và “lực” [疲] là “tinh lực” [sức lực cùng tinh hoa / tinh khôn] ; “bì” [疲] là mệt mỏi, mệt nhọc ; “tẫn” [尽] là tận, cạn hết. Có thể tạm hiểu là “sức cùng lực tận”.



    [31] Mở phường nhuộm [开起染坊] ~ Khai khởi nhiễm phường : Theo TN tra trên Baidu thì hình như là “dùng để chỉ những người không biết tự lượng sức mình, năng lực khác xa thực tế”.



    [32] Hào khí kiền vân [豪气干云] : Từ này miêu tả hào khí to lớn, lớn tới nỗi chạm đến mây. (TheoBaidu)



    [33] Nhuyễn ngọc ôn hương [软玉温香] : “Nhuyễn” [软] : Dịu dàng ; “Ngọc” [玉], “Hương” [香] : cách gọi khác dành cho con gái. Miêu tả người con gái trẻ tuổi thân thể trắng nõn mềm mại, toát ra hơi thở thanh xuân ấm áp. (Theo Tra tuân công cụ đại toàn)



    [34] Gian phu dâm phụ [奸夫淫妇] : Ý chỉ người con trai thông dâm cùng người con gái phóng đãng không bị ràng buộc bởi bất kì thứ gì. Ý chỉ trai gái dâm loạn. (Theo Tra tuân công cụ đại toàn)



    [35] Khanh khanh ta ta [卿卿我我] : “Khanh” [卿] là cách vợ chồng, bạn bè gọi nhau thân mật. “Khanh khanh ta ta” là “to bill and coo”, hôn hít và thầm thì ; ôm ấp hú hí (nói về những người yêu nhau). (Theo QuickTranslator và Lạc Việt)



    [36] Vô pháp vô thiên [无法无天] : “Pháp” là “luật pháp” (“mẫu mực”), “thiên” là “trời”. Cả câu tạm hiểu “Không có luật pháp (mẫu mực), coi trời bằng vung”. (Dựa theo QuickTranslator)



    [37] Hồ ngôn loạn ngữ [胡言乱语] : Đây là thành ngữ theo cấu trúc tách từ. “Ngôn” [言] ghép với “ngữ” [语] thành “ngôn ngữ” [言语]. “Hồ” [胡] ghép với “loạn” [乱] thành “hồ loạn” [胡乱], tức “lung tung; qua loa; qua quýt; tuỳ tiện; làm càn; làm bậy”. Cả câu có thể hiểu là “nói bậy; nói xằng; nói xằng xiên; nói xàm; nói nhảm; lời nói bậy; lời nói nhảm”. (Dựa theo QuickTranslator)



    [38] Đại đồng tiểu dị [大同小异] : “Đại” [大] là phần nhiều, phần lớn ; “Tiểu” [小] là phần ít, phần nhỏ ; “Đồng” [同] là giống nhau ; “Dị” [异] là khác nhau. “Đại đồng tiểu dị” theo QuickTranslator thì là “đại để giống nhau; na ná như nhau; cơ bản giống nhau”.



    [39] Nguyệt hắc phong cao [月黑风高] : Vốn là “Đêm trăng mờ giết người, ngày gió cao phóng hoả.” [月黑杀人夜, 风高放火天. ]. Chỉ hoàn cảnh hiểm ác (thường là buổi tối). (Theo Tra tuân công cụ đại toàn)



    [40] Vô huyết vô lệ [无血无泪] : Tạm hiểu là “Không máu, không nước mắt”, thường chỉ người không có lương tâm.



    [41] Vô tâm vô phế [没心没肺] ~ Một tâm một phế : Tạm hiểu là “Không tim, không phổi”, thường chỉ người vô tâm, nhẫn tâm, hay suy nghĩ đơn giản, thiếu suy nghĩ, thậm chí là… ngu đần. (Dựa theo QuickTranslator) Phần TYV thì lại liên tưởng tới từ vô cảm, không có sự sống.



    [42] Uỷ khúc cầu toàn [委曲求全] : “Uỷ khúc” [委曲] là “uốn lượn; uyển chuyển; quanh co;”, “cầu toàn” [求全] có thể tạm hiểu là “mưu cầu sự hoàn hảo”, “đạt được mục đích”,v.v… (Theo QuickTranslator) Miễn cưỡng nhân nhượng người khác, hòng để bảo toàn (giữ tròn, duy trì,v.v…). Cũng chỉ vì lấy đại cục làm trọng mà nhượng bộ. (Theo Tra tuân công cụ đại toàn) Có lẽ là thành ngữ này cũng giống kiểu “chính sách mềm dẻo”. XD



    [43] Kiến quái bất quái [见怪不怪] : “Quái” của “quái dị; quái lạ; quái gở; quái đản”, “Kiến” là “trông thấy”, “Bất” là “không” (tương tự như “not” của tiếng Anh). (Dựa theo QuickTranslator) Cả thành ngữ có thể tạm hiểu là : “Trông thấy quái (với người thường) nhưng không cảm thấy quái (với bản thân)”.



    [44] Lê hoa đái vũ [梨花带雨] : Giống như hoa lê dính hạt mưa. Vốn miêu tả dáng vẻ khi khóc của Dương quý phi. Sau này được dùng để miêu tả sự kiều diễm của người con gái. (Theo Tra tuân công cụ đại toàn)



    [45] Lục thần vô chủ [六神无主] : Lục thần không có chủ : Theo Đạo gia, lục thần của cơ thể người gồm tim, gan, phổi, thận, tỳ, mật. Tạm hiểu là “mất bình tĩnh; hoang mang lo sợ; không làm chủ được tinh thần”. (Dựa theo QuickTranslator)



    [46] Hồng nhan bạc mệnh [红颜薄命] : Tạm edit là “Má hồng mạng mỏng manh (bạc bẽo)”. “Má hồng” dùng để chỉ người con gái đẹp. (Dựa theo QuickTranslator)



    [47] Kỳ hoa dị thảo [奇花异草] : Ghép “hoa” với “thảo” thành “hoa thảo” [花草] chính là “hoa cỏ”, ghép “kỳ” với “dị” thành “kỳ dị” [奇异], cả cụm từ có thể hiểu là “hoa cỏ lạ hiếm thấy” (thường thuộc loại quý giá). (Dựa theo QuickTranslator)



    [48] Phi dương bạt hỗ [飞扬跋扈] : “Phi dương” [飞扬] : Phóng túng ; “Bạt hỗ” [跋扈] : Ngang ngược, bá đạo. Chỉ sự ngang tàng, không bị trói buộc, không coi ai ra gì. (Theo Tra tuân công cụ đại toàn)



    [49] Thần lai chi bút [飞扬跋扈] : “Thần” [神] : Thần linh. Tác phẩm được thần linh hỗ trợ viết (hoặc vẽ) ra. Miêu tả tác phẩm, câu chữ đặc sắc. (Theo Tra tuân công cụ đại toàn)



    [50] Vọng sơn bào tử mã [望山跑死马] :

    Mắt thấy núi ngay trước mặt nhưng thực tế lại cách rất xa.

    Nói đúng là khoảng cách đến núi thấy bằng mắt thì rất gần, nhưng thực ra lại có thể khiến con ngựa mệt chết.

    Miêu tả việc nhìn thì dễ, làm thì khó.

    (Theo Baidu)



    [51] Nhất minh kinh nhân [一鸣惊人] : Ám chỉ biểu hiện bình thường không có gì đặc biệt, thoáng cái làm ra thành tích kinh người. (Theo Tra tuân công cụ đại toàn) Dựa vào Đến đây đi, bác sĩ – Chương 04, TYV nghĩ có thể tạm hiểu rộng hơn ra là : Thoáng nhìn thì thấy bình thường nhưng thực ra không phải thế.



    [52] Tiểu biệt thắng tân hôn [小别胜新婚] : Theo TYV thì tạm edit là : “Chút xa cách còn hơn cả tân hôn”. Theo Baidu thì : Vợ chồng son nếu vì công tác hoặc là có chút chuyện mà phải xa nhau vài ngày, tới lúc gặp lại, tình cảm càng thêm ngọt ngào (Gặp lại nhau sau một thời gian xa cách, cảm giác tựa như mới kết hôn). Có điều, theo như ngữ cảnh của của Phế hậu tướng quân – Chương 08, thì có vẻ như ý Mạc Dung Viêm là xa Tả Thương Lang ít ngày rồi lại gần gũi còn hơn cả đêm tân hôn (với Khương Bích Lan) (?).



    [53] Nhược thủy tam thiên [弱水三千] :

    Ngày xưa có rất nhiều con sông nông nhưng chảy xiết không thể dùng thuyền mà phải dùng (mấy thứ như) xuồng cao su (nguyên gốc là “皮筏” – “leather float; inflatable raft”, ta cũng ứ rõ) mà sang, người xưa cho rằng do nước yếu nên không chở thuyền được, cho nên mới gọi sông như vậy là “nhược thủy” (“弱水” – “nước yếu”). Sau đó, văn học cổ dần dần dùng từ “nhược thủy” để chỉ con sông hiểm mà dài rộng, trong 《 Kim Sơn Diệu Cao Thai 》 khá nổi tiếng của Tô Thức có câu : “Chốn Bồng Lai không thể đến, nhược thủy ba nghìn dặm”. Từ “nhược thủy” trong 《 Hồng Lâu Mộng 》 ý chỉ bể tình biển yêu. Cổ Bảo Ngọc nói với Lâm Đại Ngọc : “Mặc cho nhược thủy tam thiên, ta chỉ lấy một gáo nước”, sau này trở thành lời thề tình yêu son sắt giữa hai người nam và nữ. (Theo Baidu.com)

    Một vài câu dịch sang tiếng Anh của câu nói “Mặc cho nhược thủy tam thiên, ta chỉ lấy một gáo nước” : “You are the only one for me in this multifarious world.” (Tôi chỉ có mình người giữa chốn phồn hoa này.), “Even if there are thousands of options,I will choose the only one in my heart.” (Dẫu cho có ngàn lựa chọn, tôi sẽ chỉ chọn một người trong trái tim mình.),… (Theo Bulo.Hjenglish.com)



    [54] Hậu tri hậu giác [后知后觉] :

    Giải thích căn bản

    “Tiên tri tiên giác” cùng “hậu tri hậu giác”, rất đơn giản, chính là độ nhạy cảm đối với sự việc, đầu tiên là tiên tri tiên giác đến cuối cùng là hậu tri hậu giác.

    Giải nghĩa từ trong sách cổ

    Trước tiên phải hiểu rõ, “tri” khác với “giác”. “Tri”, chính là “tri đạo” (biết / hiểu / rõ), thuộc về lý tính. “Giác”, chính là “cảm giác”, thuộc về cảm tính. “Tri” là khách quan, “giác” là chủ quan.

    Nhận biết với cảm giác không hề giống nhau. Bạn trông thấy một bông hoa có màu hồng, là nhận biết. Bạn cảm thấy không đẹp, đó là cảm giác. Bởi vì, bạn trông thấy màu hồng, người khác cũng trông thấy màu hồng. Có điều, bạn cảm thấy không đẹp, nhưng có thể người khác cảm thấy đẹp.

    Như vậy, “tiên tri hậu giác” cùng với “hậu tri tiên giác” cũng đã rõ ràng rồi.

    Ví dụ

    Thần sắc của Tiểu Vương trong phòng làm việc không ổn, do nhà có chuyện.

    Nếu như bạn không hề cảm thấy thần sắc của anh ta không ổn. Mà phải nhờ, người khác nói là nhà anh ta có chuyện rồi, bạn mới nhìn lại, quả nhiên lông mày anh ta cứ nhíu chặt, mới thấy nhà anh ta đúng là có chuyện thật. Đó là, “tiên tri hậu giác”.

    Trái lại, nếu bạn sớm cảm thấy thần sắc anh ta không ổn, sau đó mới nghe nói nhà anh ta có chuyện. Đó là, “hậu tri tiên giác”.

    Bổ sung : Đây chỉ là quá trình từ nhận thức đến hiểu rõ. “Tiên tri tiên giác” nghĩa là quá trình từ nhận thức đến hiểu rõ xảy ra rất nhanh. “Hậu tri hậu giác” là quá trình từ nhận thức đến hiểu rõ xảy ra khá chậm. Quá trình từ “tri” (nhận thức) tới “giác” (hiểu rõ) chính là quá trình tự dung nhập những thứ thuộc thế giới bên ngoài vào bên trong mình.

    TYV : “Giác” ở đây vốn là trong từ “cảm giác” và “giác ngộ”.

    (Theo Baidu.com)

    [55] Tửu quá tam tuần, thái quá ngũ vị [酒过三巡, 菜过五味] :

    Ý của “Tửu quá tam tuần” là đã uống rượu ba phiên. Tỉ như, có năm vị ngồi cùng bàn, thì mỗi người đều uống một lượt, như thế tính là một phiên, cũng chính là “một tuần”. Đây là ý nghĩa ban đầu của từ “tuần”.

    Sau này mỗi địa phương lại có khái niệm riêng, chính là mỗi người nhất định phải uống sạch rượu, mới được tính là một tuần.

    Có câu “Tửu quá tam tuần, thái quá ngũ vị”, chính là chỉ những người cùng bàn uống ba phiên (mỗi người uống ba chén), sau đó món ăn cũng đủ năm vị. Đây ý chỉ bữa tiệc đã đến hồi kết thúc.

    Trong bình thư (một hình thức văn nghệ dân gian của Trung Quốc, khi kể một câu chuyện dài dùng quạt, khăn làm đạo cụ) cùng với hí kịch cổ thường nghe câu “Tửu quá tam tuần, thái quá ngũ vị”.

    Cái gọi là “tam tuần”, chính là ba lượt. Người chủ rót cho mỗi vị khách một lượt rượu, nếu như tuần là một vòng, rót xong ba lượt, các vị khách đều uống cạn, được gọi là “tửu quá tam tuần”.

    Lời khách sáo này ý nói yến tiệc đã tới độ sâu nhất định, đã có thể bàn luận vấn đề bản chất làm nên bữa tiệc đó, hoặc là yến tiệc đã tới hồi kết thúc.

    (Theo Baidu.com (Baike))

    Ba tuần đó thường là : Người chủ kính người khách danh dự, người khách danh dự đáp lễ người chủ, người chủ kính người khách bình thường.

    Năm vị đó thường là : Toan – Điềm – Khổ – Lạt – Hàm (Chua – Ngọt – Đắng – Cay – Mặn).

    (Theo Baidu.com (Zhidao))

    [56] Âm dương quái khí [阴阳怪气] : Chỉ lời lẽ, cử chỉ vân vân quái đản, kỳ lạ, hoặc lời nói, thái độ không chân thành, khiến người ta đoán không ra. VD : Bộ dạng âm dương quái khí kia của hắn, thật khiến cho người ta không vui. (Theo Zdic.net)

    [57] Thiên chi kiêu tử [天之骄子]: Con cưng: Đứa con được cha mẹ cưng chiều quá sinh kiêu. Đứa con cưng của ông trời. Vốn ý chỉ tộc người Hồ hùng mạnh ở phương Bắc, sau lại chỉ đứa con do được cha mẹ cưng chiều quá mà sinh hư. (Theo Baidu.com)

    NHÂN VẬT – ĐIỂN TÍCH – LỊCH SỬ

    [01] Kinh Kha thích (ám sát) Tần Vương

    [02] Shiratori Reiko [白鸟丽子] : Là nhân vật chính trong truyện tranh Shiratori Reiko de Gozaimasu!, là một cô gái 19 tuổi, nhà giàu mới nổi từ miền quê, kiêu căng, ngạo mạn. Hình minh hoạ (cũng được xem là kiểu cười của Shiratori Reiko) :

    [03] Thọ Tinh Công [寿星公] ~ Thọ thần ~ Ông Thọ : Theo truyền thuyết, Thọ Tinh Công trên đồ gốm, sứ thời Minh và đầu thời Thanh được tạo hình một vị thần cao lớn, đầu dài, trán hơi nhô, bộ râu dài trắng và khuôn mặt hiền từ, nụ cười tươi. Thần là biểu tượng cho sự trường thọ và cát tường.(Theo Cửa Sổ Mới)

    BÀI THƠ

    [01] Phong tiêu tiêu hề dịch thủy hàn, tráng sĩ nhất khứ hề bất phục hoàn. [风萧萧兮易水寒, 壮士一去兮不复还.] : Là hai câu thơ Kinh Kha đã ứng tác với các bạn đi tiễn, tạm hiểu, “Gió đìu hiu sông Dịch lạnh, tráng sĩ một đi không trở về.”.

    根正苗红: căn chính miêu hồng

    [Theo cxgjdq] nó có nghĩa đen là rễ (nguồn gốc) chân chínhm cành lá khỏe mạnh. Nghĩa bóng: chỉ người đã từng kiên quyết/vững vàng trong chính trị. Cái này cô căn theo ngữ cảnh nữa nhá, nếu thấy không ổn thì google thêm lần nữa, coi nó còn nghĩa khác hôn

    “phong sinh thủy khởi” = “Gió nổi nước dâng”

    Nhược thủy tam thiên [弱水三千] : Ngày xưa có rất nhiều con sông nông nhưng chảy xiết không thể dùng thuyền mà phải dùng (mấy thứ như) xuồng cao su (nguyên gốc là “皮筏” – “leather float; inflatable raft”, ta cũng ứ rõ) mà sang, người xưa cho rằng do nước yếu nên không chở thuyền được, cho nên mới gọi sông như vậy là “nhược thủy” (“弱水” – “nước yếu”). Sau đó, văn học cổ dần dần dùng từ “nhược thủy” để chỉ con sông hiểm mà dài rộng, trong 《 Kim Sơn Diệu Cao Thai 》 khá nổi tiếng của Tô Thức có câu : “Chốn Bồng Lai không thể đến, nhược thủy ba nghìn dặm”. Từ “nhược thủy” trong 《 Hồng Lâu Mộng 》 ý chỉ bể tình biển yêu. Cổ Bảo Ngọc nói với Lâm Đại Ngọc : “Mặc cho nhược thủy tam thiên, ta chỉ lấy một gáo nước”, sau này trở thành lời thề tình yêu son sắt giữa hai người nam và nữ. (Theo Baidu.com)

    Hoàn Khố (纨绔)= Quần áo lụa là

    1. Mượn chỉ con cháu người phú quý.

    2. Khỉ nhu hoàn khố nhu: áo đuôi ngắn; khố: quần. Dùng tơ lụa làm quần áo. dùng chỉ phú quý đệ tử

    3. Hoàn khố cao lương cao lương: thực phẩm tinh mỹ. áo cơm Tinh mỹ. Mượn chỉ con cháu nhà phú quý chỉ biết hưởng thụ, chuyện gì cũng không thể làm.

    4. Ăn chơi thiếu gia quần là áo lượt: mảnh lụa làm quần. Chỉ quan liêu, địa chủ các loại:đợi có tiền có thế người ta suốt ngày sống phóng túng, không làm việc đàng hoàng đệ tử

    Hậu tri hậu giác [后知后觉] :

    Giải thích căn bản

    “Tiên tri tiên giác” cùng “hậu tri hậu giác”, rất đơn giản, chính là độ nhạy cảm đối với sự việc, đầu tiên là tiên tri tiên giác đến cuối cùng là hậu tri hậu giác.

    Giải nghĩa từ trong sách cổ

    Trước tiên phải hiểu rõ, “tri” khác với “giác”. “Tri”, chính là “tri đạo” (biết / hiểu / rõ), thuộc về lý tính. “Giác”, chính là “cảm giác”, thuộc về cảm tính. “Tri” là khách quan, “giác” là chủ quan.

    Nhận biết với cảm giác không hề giống nhau. Bạn trông thấy một bông hoa có màu hồng, là nhận biết. Bạn cảm thấy không đẹp, đó là cảm giác. Bởi vì, bạn trông thấy màu hồng, người khác cũng trông thấy màu hồng. Có điều, bạn cảm thấy không đẹp, nhưng có thể người khác cảm thấy đẹp.

    Như vậy, “tiên tri hậu giác” cùng với “hậu tri tiên giác” cũng đã rõ ràng rồi.

    Ví dụ

    Thần sắc của Tiểu Vương trong phòng làm việc không ổn, do nhà có chuyện.

    Nếu như bạn không hề cảm thấy thần sắc của anh ta không ổn. Mà phải nhờ, người khác nói là nhà anh ta có chuyện rồi, bạn mới nhìn lại, quả nhiên lông mày anh ta cứ nhíu chặt, mới thấy nhà anh ta đúng là có chuyện thật. Đó là, “tiên tri hậu giác”.

    Trái lại, nếu bạn sớm cảm thấy thần sắc anh ta không ổn, sau đó mới nghe nói nhà anh ta có chuyện. Đó là, “hậu tri tiên giác”.

    Bổ sung : Đây chỉ là quá trình từ nhận thức đến hiểu rõ. “Tiên tri tiên giác” nghĩa là quá trình từ nhận thức đến hiểu rõ xảy ra rất nhanh. “Hậu tri hậu giác” là quá trình từ nhận thức đến hiểu rõ xảy ra khá chậm. Quá trình từ “tri” (nhận thức) tới “giác” (hiểu rõ) chính là quá trình tự dung nhập những thứ thuộc thế giới bên ngoài vào bên trong mình.

    TYV : “Giác” ở đây vốn là trong từ “cảm giác” và “giác ngộ”.

    (Theo Baidu.com)

    Vụ Lý Khán Hoa

    Cả cụm từ tiếng Trung đó là “như trông hoa trong sương mù”. “Trông hoa trong sương mù” (“Vụ Lý Khán Hoa”) vốn chỉ người già mắt mờ, sau thường chỉ việc mơ hồ.

    Cụm từ này xuất phát từ bài thơ “Tiểu hàn thực chu trung tác” của Đỗ Phủ thời Đường:

    Xuân thủy thuyền như thiên thượng tọa, lão niên hoa tự vụ trung khán.

    Mình tạm edit thành: “Thuyền trôi nước xuân tựa không trung, người già trông hoa trong sương.”.

    Ở bài thơ này, Đỗ Phủ vốn dùng nói với ý nghĩa là chỉ đôi mắt mờ của người già.

    (Theo Zdic.net)

    Hưng Tai Nhạc Họa (兴灾乐祸)

    Câu này thường dùng để nói về quan hệ giữa các nước, nhưng cũng có thể dùng ví von giữa người và người, ý nói người hay vật gì đó không có ý tốt, trong lúc người khác gặp họa thì cảm thấy vui vẻ, không có lòng đồng tình, thậm chí có thái độ ích kỷ lạnh lùng. Câu này có nghĩa gần giống câu “Bỏ đá xuống giếng; Vui khi người gặp họa. (Theo baike.baidu)

    Bào Đang Bang (跑单帮)

    việt phrase dịch là: bọn người buôn nước bọt còn có ý chỉ là một người nào đó lấy chuyện mua đi bán lại kiếm lời làm nghề nghiệp chính.






    Người trong hồi ức

    Vũ Tài sản


  2. #2
    chỉnh sửa một số từ ngữ QT ở trên và thêm vào 1 số từ khác:
    phải: muốn
    Cao điểm: ăn vặt ( bánh quy , thạch ...)
    Mong: cằm
    Bị tử: chăn
    Giác = góc = sừng
    Lưu hải = tóc mái , phát = tóc
    Dạy: giáo
    Tái: trắng
    Mặc: xuyên
    Gia: nhà
    Nhân: người
    Bẩn: tạng ( nội tạng )
    Giúp: bang ( bang xhđ)
    Thảo = cỏ = mẹ kiếp
    Đúng: phó (chức vụ )
    Giả bộ: trang ( trang phục )
    dài = lớn = trưởng = trường
    khối = tờ = cái = miếng ( tất cả cái gì mỏng thì nó chỉ dùng 1 từ , ko như tiếng việt )
    tiểu phúc: bụng, dạ dày
    chúc: cháo (còn có nghĩa khác mà không biết )
    tùng lâm: rừng/ diêu: lay (ý chỉ lay tỉnh ai đó)
    hôn thiên ám địa: không biết trời trăng mây đất gì
    song bội: gấp đôi/ toán: tính
    che đậy: đóng kín/ chỉ phúc: ngón tay
    thị: nhìn/ thục: quen thuộc, thân quen, quen biết
    tinh bì lực tẫn: sức cùng lực kiệt
    nhất đốn, cho ăn: sững lại, ngừng một lát
    kỳ ba: lạ lùng, kỳ lạ (chỉ người nào đó xuất chúng)
    ý tứ: ý gì?/ phi tiếp bất khả: không nhận không được
    ác tâm: buồn nôn, ghê tởm
    mục trừng khẩu ngốc: không nói nên lời (mắt chữ A mồm chữ O)
    loại: giỏi


    Một số từ đo lường thường gặp
    Dặm = lý: 500m
    1 canh giờ: 2 tiếng
    1 khắc: 15'
    1 chén trà: khoảng 15' - 30'
    1 nén nhang: khoảng 45- 1 tiếng
    1 thạch: 71 kg
    fallenangelp Tài sản


  3. #3
    Tri vô bất ngôn: không biết không nói
    Ngôn vô bất tẫn: nếu biết thì nói hết toàn bộ
    Bạch thủ thành gia: Thành công từ bàn tay trắng
    Băng thanh ngọc khiết: Trong trắng như băng ngọc
    Bất chiến tự nhiên thành: Không đánh mà thắng
    Bất cộng đái thiên: Thù không đội trời chung
    Bất di bất dịch: Không di không chuyển, ở yên một chỗ.
    Bất nhập hổ huyệt, bất đắc hổ tử: Không vào hang cọp sao bắt được cọp con
    Bần cùng sinh đạo tặc. Phú quý sinh lễ nghĩa = Khi nghèo khó con người có thể thành trộm cắp, khi giàu sang trở nên bày vẽ màu mè.
    Bất tài vô tướng: Không có khả năng, không có tướng mạo (vừa bất tài, vừa xấu - nhân tướng)
    Bất khả chiến bại: Không thể bị đánh bại -Toàn thắng, không thua bao giờ.
    Binh quý xuất kỳ bất ý: Trong binh pháp quý nhất là tấn công bất ngờ.
    Cao sơn lưu thủy, hậu hội hữu kỳ:Núi cao, sông dài, có ngày gặp lại.
    Can tràng tấc đoạn: Đau đớn như ruột gan đứt lìa
    Dĩ hoà vi quý: Giữ được hòa khí là điều quý nhất.
    Duy ngã độc tôn: Tự xem mình là người cao quý duy nhất.
    Dưỡng hổ di họa: Nuôi cọp rồi sẽ mang họa (tương tự "Nuôi ong tay áo" trong tục ngữ Việt Nam)
    Đồng quy vu tận: cùng chết chung.
    Họa hổ họa bì nan họa cốt, tri nhân tri diện bất tri tâm: Vẽ hổ chỉ vẽ da chứ khó vẽ xương, biết người biết mặt nhưng không biết lòng.
    Khai chi tán diệp: Tương tự như "Đâm chồi nảy lộc", ý chỉ việc con đàn cháu đống, nối dõi tông tường.
    Kính nhi viễn chi: Cung kính đứng xa mà nhìn
    Khí định thần nhàn: Dáng vẻ bình tĩnh, nhàn nhã
    Ký lai nhi tắc an chi: Tương tự "Thuyền đến đầu cầu tự nhiên thẳng", việc đến một lúc nào đó tự an định, giống như đi qua cầu không thể đi chéo.
    Lạc hoa lưu thuỷ: Hoa rơi nước chảy
    Loạn thần tặc tử: Bề dưới tạo phản, con cái mất nết.
    Long đàm, hổ huyệt: Hang rồng, huyệt hổ, chốn nguy hiểm
    Nhàn cư vi bất thiện: Nhàn rỗi quá sẽ sinh tật hư hỏng.
    Nhân bất vị kỉ, thiên tru địa diệt: Người không vì mình, trời tru đất diệt.
    Nhân định thắng thiên: Ý chí của con người có thể thắng được hoàn cảnh, số phận.
    Nhân sinh vô thập toàn - Nhân bất thập toàn = Con người sinh ra không ai hoàn hảo.
    Đậu: đùa
    Ngoạn: chơi
    Ảnh tử: thân ảnh, bóng dáng
    Bái kiến: gặp mặt/ tái kiến: gặp lại
    Hồng môn yến: Trong văn hóa Trung Quốc, thuật ngữ Hồng Môn Yến được sử dụng theo nghĩa bóng để chỉ một cái bẫy hay một tình huống vui vẻ nhưng trong thực tế lại nguy hiểm
    Đồ đằng: có thể là tranh ảnh chạm khắc gì đó, hay gặp ở những truyện đào mộ
    Mary Sue: là thuật ngữ mà người viết sử dụng để nói về một nhân vật, thường là một cô gái, hoàn hảo về mọi mặt.
    Hồ tử: râu trắng
    Thảo: cỏ
    Nhận chân: nghiêm túc, thành thật
    Thụ: cây, tiếp nhận
    Ốc: nhà
    Thang: canh, thuốc
    Quái: trách cứ
    Bất tập quán: không có thói quen, không quen thuộc
    Bổn: thô thiển, khô khan (có thể là ý chỉ những người cứng nhắc) vd: ta bổn: ta là người khô khan
    Đổng: hiểu vd: ngươi đổng? – ngươi hiểu chứ?
    Kiến: xây dựng
    Trạc: đâm
    Yên: khói (có thể là khói thuốc lá, khói dầu)
    Hậu trứ kiểm bì: mặt dày, không mặt mũi vd: ta bất hậu trứ kiểm bì tại vấn như vậy – ta không thể nào không có mặt mũi mà đi hỏi như thế.
    Cổn: hỗn loạn, bừa bãi
    Khi không có ai trên đời này nhìn nhận em, chính bản thân tôi sẽ ôm lấy em vào lòng mà mặc sức yêu thương cho thoả đáng...
    fallenangelp Tài sản


  4. #4
    Sa: cát / Mạt: bong bóng, bọt nước
    JQ: gian tình
    Trì: cái ao
    Kháp: vỗ vd: làm sao ngươi kháp ta? – tại sao ngươi vỗ/ đánh ta?
    Tạp: từ ngữ chỉ các loại thẻ atm vd: xoát tạp – quẹt thẻ
    Nhị bức: có bệnh, bị bệnh (không phải bệnh thật mà chỉ chửi người)
    Thiện biến: dễ thay đổi
    Nhi: chuyện tình, sự việc vd: nàng xảy ra sự nhi? – nàng xảy ra sự việc/ chuyện gì?
    Nữ hài: chỉ người con gái/ cô gái (không phải chỉ bé gái – con nít đâu, nữ hài tử mới là bé gái, tương tự, nam hài là chàng trai, nam hài tử là bé trai)
    Bị nhét thức ăn cho chó: câu này có thể là từ ngữ mạng bên Trung, hay để nói những người cô đơn mà nhìn thấy 1 cặp đôi quấn quít trước mặt, kiểu như cặp kia sến súa trước mặt mà bản thân bị ép phải xem cảnh đó, hoặc ngẫu nhiên nhìn thấy làm bản thân thấy ghen tị hoặc nổi da gà
    Độc thân cẩu: người cô đơn bên Trung được ví như cẩu (từ ngữ mạng)
    Đậu bỉ: Baike mãi thì không thấy, cuối cùng lên diễn đàn thì thấy các bạn ý giải thích như thế này: đậu bỉ là từ xuất phát từ anime, do nhân vật ふるで りか nói giọng địa phương nên được dịch thành như vậy. Từ đó mọi người dùng với nghĩa là “hank” (từ này thì mình không hiểu là tên 1 nhân vật hay là một từ tượng thanh). Về cơ bản có nghĩa là Ngốc, nhà quê, đần đụt [trích từ shotavonteese.wordpress.com]
    Ngọa tào trái nghĩa với Khiêu tào = đổi việc liên tục. Trong môn cờ vua, Ngọa tào mã_ quân mã “nhảy” công thủ toàn diện “. Trong nghề nghiệp, Ngọa tào mã chỉ cách quản lý trong công việc, giữ được người tài, phân bố nhân lực tốt, tìm được chân nhân bất lộ tướng. Trên mạng, lại có một ý nghĩa khác, có liên quan tới “Ngọa tào nê mã” (lại là một câu chuyện dài khác=v=) là câu cửa miệng của giới trẻ trong thời kỳ khủng hoảng kinh tế, đại ý chỉ những người bám trụ công việc trong thời đại người cần việc việc không cần người. Năm 2011 đã đc đưa vào đại từ điển Hán Anh với nghĩa: job hugging. Tuy nhiên hiện nay văn viết trên mạng, văn nói cũng rất nhiều người dùng từ ngọa tào. Thường gặp ở các tình huống vô cùng hiểm hóc, khiến cho người nói bất ngờ bức xúc…. Có thể hiểu là cách bộc lộ cảm xúc: Vãi =w=… Hoặc cũng có thể hiểu là Follow một vấn đề nào đó. [trích từ shotavonteese.wordpress.com]
    Phấn: chỉ fan theo dõi của một thần tượng
    Hồng thượng: nổi tiếng lên
    Phấn ti: người theo dõi
    Thũng zhǒng: Nghĩa đen là: sưng phồng, Nghĩa internet hiện đại: cách dùng giống như 囧[trích từ shotavonteese.wordpress.com]
    Muội chỉ: Xuất phát từ Hồ Nam, Hà Nam, là cách phát âm của Muội tử. Xuất hiện từ khoảng năm 2011. Sự xuất hiện cũng giống như các từ lưu hành từ internet 肿么了và 有木有. Muội chỉ cũng có thể lý giải như bức hình đẹp của các cô gái, có lẽ chỉ bức hình của các cô gái xinh đẹp, vân vân. Cũng có thể là cách xưng hô thân mật giữa cặp đôi gà bông. Hoặc không, muội chỉ, chỉ là giấy, có thể chỉ băng vệ sinh của nữ giới.

    * 肿么了Phát âm: “zhong me le”
    “Thũng yêu liễu” Nghĩa là: 怎么了 “zen me le” Chẩm yêu liễu. Giọng của người Sơn Đông và nhiều tỉnh thành khác (như Làm sao vậy, và Mần răng vậy, làm sao dzậy…. đại loại)
    *“有木有”Hữu mộc hữu phát âm: you mu you. Tương tự Hữu một hữu = có hay không. Thường thể hiện thái độ kích động, có tác dụng tương tự “!!!!!!!!!”
    Thủ, thủ cấp: đầu vd: trư thủ – đầu heo
    Thí thí: cái mông
    phiêu lượng mỹ mi: em gái xinh đẹp
    phiêu phiêu mỹ mi: cao cấp hơn
    phách mã thí: vuốt mông ngựa (câu này hay dùng cho những người nịnh hót kẻ khác)
    bính mệnh phách mã thí: tích cực vuốt mông ngựa
    vi bác: weibo (trang mạng bên Trung, giống người Việt xài facebook)
    Bách chiết thiên hồi: Trăm tơ về lại một mối.
    Xuất nhân ý liêu: ngoài tầm dự đoán
    Khi không có ai trên đời này nhìn nhận em, chính bản thân tôi sẽ ôm lấy em vào lòng mà mặc sức yêu thương cho thoả đáng...
    fallenangelp Tài sản


Quyền viết bài

  • Bạn không thể đăng chủ đề mới
  • Bạn không thể gửi trả lời
  • Bạn không thể gửi đính kèm
  • Bạn không thể sửa bài
  •